<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	xmlns:georss="http://www.georss.org/georss" xmlns:geo="http://www.w3.org/2003/01/geo/wgs84_pos#" xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/"
	>

<channel>
	<title>VanHac.Org</title>
	<atom:link href="http://vanhacyb.wordpress.com/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://vanhacyb.wordpress.com</link>
	<description>trần vân hạc, van hoa gian gian, van hoa dan toc, tieng thai, mua xoe, hoa ban, yen bai, suoi giang, nghia lo</description>
	<lastBuildDate>Wed, 31 Mar 2010 23:55:30 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.com/</generator>
<cloud domain='vanhacyb.wordpress.com' port='80' path='/?rsscloud=notify' registerProcedure='' protocol='http-post' />
<image>
		<url>http://0.gravatar.com/blavatar/4da95d1b973d87287e9dffab7e53af47?s=96&#038;d=http%3A%2F%2Fs2.wp.com%2Fi%2Fbuttonw-com.png</url>
		<title>VanHac.Org</title>
		<link>http://vanhacyb.wordpress.com</link>
	</image>
	<atom:link rel="search" type="application/opensearchdescription+xml" href="http://vanhacyb.wordpress.com/osd.xml" title="VanHac.Org" />
	<atom:link rel='hub' href='http://vanhacyb.wordpress.com/?pushpress=hub'/>
		<item>
		<title>Thương nhớ Trịnh Công Sơn</title>
		<link>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/04/01/th%c6%b0%c6%a1ng-nh%e1%bb%9b-tr%e1%bb%8bnh-cong-s%c6%a1n/</link>
		<comments>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/04/01/th%c6%b0%c6%a1ng-nh%e1%bb%9b-tr%e1%bb%8bnh-cong-s%c6%a1n/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 31 Mar 2010 23:55:30 +0000</pubDate>
		<dc:creator>tranvanhac</dc:creator>
				<category><![CDATA[Vui buồn, Suy ngẫm]]></category>
		<category><![CDATA[thuong nho]]></category>
		<category><![CDATA[trinh cong son]]></category>
		<category><![CDATA[vui buon suy ngam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vanhacyb.wordpress.com/?p=5923</guid>
		<description><![CDATA[Trần Vân Hạc Anh đi ngày “Cá tháng tư” Có ai nói dối tạ từ người thân? Cuộc đời thật &#8211; dối &#8211; giả  - chân Cung đàn ngân lắng muôn phần tin yêu Hoa thơm sớm nở tàn chiều Nhân gian day dứt bao điều trở trăn Muôn đời ấy Quả lòng Nhân Hạt  [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vanhacyb.wordpress.com&amp;blog=7020745&amp;post=5923&amp;subd=vanhacyb&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Trần Vân Hạc</strong></p>
<p>Anh đi ngày “Cá tháng tư”</p>
<p>Có ai nói dối tạ từ người thân?</p>
<p>Cuộc đời thật &#8211; dối &#8211; giả  - chân</p>
<p>Cung đàn ngân lắng muôn phần tin yêu<span id="more-5923"></span></p>
<p>Hoa thơm sớm nở tàn chiều</p>
<p>Nhân gian day dứt bao điều trở trăn</p>
<p>Muôn đời ấy Quả lòng Nhân</p>
<p>Hạt  bụi nào lẫn muôn phần cỏ cây</p>
<p>Đường tên Anh tận trời Tây</p>
<p>Mấy ai đến được cõi này nhân gian</p>
<p>Dẫu rồi vàng đá nát tan</p>
<p>Thì muôn năm có lẫn vàng với thau ?</p>
<p>Ngày nói dối, xót xa đau</p>
<p>Nén hương lòng sáng một mầu tri ân</p>
<p>Trời cao xanh có thấu chăng</p>
<p>Nắng cuộc đời vẫn thắm hồng tin yêu</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/vanhacyb.wordpress.com/5923/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/vanhacyb.wordpress.com/5923/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/vanhacyb.wordpress.com/5923/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/vanhacyb.wordpress.com/5923/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/vanhacyb.wordpress.com/5923/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/vanhacyb.wordpress.com/5923/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/vanhacyb.wordpress.com/5923/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/vanhacyb.wordpress.com/5923/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/vanhacyb.wordpress.com/5923/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/vanhacyb.wordpress.com/5923/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/vanhacyb.wordpress.com/5923/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/vanhacyb.wordpress.com/5923/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/vanhacyb.wordpress.com/5923/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/vanhacyb.wordpress.com/5923/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vanhacyb.wordpress.com&amp;blog=7020745&amp;post=5923&amp;subd=vanhacyb&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/04/01/th%c6%b0%c6%a1ng-nh%e1%bb%9b-tr%e1%bb%8bnh-cong-s%c6%a1n/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/8e6815571642b8969077094b7f6e6713?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">tranvanhac</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Tâm Sự người già</title>
		<link>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/31/tam-s%e1%bb%b1-ng%c6%b0%e1%bb%9di-gia/</link>
		<comments>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/31/tam-s%e1%bb%b1-ng%c6%b0%e1%bb%9di-gia/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 31 Mar 2010 13:17:01 +0000</pubDate>
		<dc:creator>tranvanhac</dc:creator>
				<category><![CDATA[Vui buồn, Suy ngẫm]]></category>
		<category><![CDATA[nguoi gia]]></category>
		<category><![CDATA[tam sụ]]></category>
		<category><![CDATA[vui buon suy ngam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vanhacyb.wordpress.com/?p=5911</guid>
		<description><![CDATA[Tâm sự người già Chu Dung Cơ Nguyên Thủ tướng Quốc vụ viện Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tháng ngày hối hả,đời người ngắn ngủi,thoáng chốc đã già&#8230;Chẳng dám nói hiểu hết mọi điều nhân sinh,nhưng chỉ có hiểu đời thì sống mới thanh thản,sống thoải mái. Qua một ngày,mất một ngày, Qua một [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vanhacyb.wordpress.com&amp;blog=7020745&amp;post=5911&amp;subd=vanhacyb&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;font-size:medium;"><strong>Tâm  sự  người già </strong></span></p>
</div>
<div>
<div><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;font-size:small;"><strong>Chu Dung  Cơ<br />
Nguyên  Thủ tướng Quốc vụ viện<br />
Cộng hòa nhân dân Trung  Hoa</strong></span><strong><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;font-size:small;"> </span></strong><span style="font-family:andale mono,times;font-size:small;"><span style="font-family:book antiqua,palatino;"><span style="font-family:arial black,avant garde;"><br />
</span></span></span></p>
<p>Tháng ngày hối hả,đời người ngắn ngủi,thoáng chốc đã già&#8230;Chẳng dám nói hiểu hết mọi điều nhân sinh,nhưng chỉ có hiểu đời thì sống mới thanh thản,sống thoải mái.<span id="more-5911"></span></p>
<p>Qua một ngày,mất một ngày,<br />
Qua một ngày vui một ngày,<br />
Vui một ngày,lãi một ngày</p>
<p>Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sống là mục tiêu cuối cùng của cuộc đời,niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy.Hạnh phúc và vui sướng là cảm giác và cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.</p>
<p>Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì cả.</p>
<p>Đừng quá coi trọng đồng tiền,càng không nên quá so đo,nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân,khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có người cần bạn giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn.Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền, biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền đừng làm tôi tớ cho nó.</p>
<p>&#8220;Quãng đời còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó phong phú&#8221;. Người già phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với &#8220;ông sư khổ hạnh&#8221;,hãy làm &#8220;con chim bay lượn&#8221;.Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc,cần chơi thì chơi,luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống,hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.</p>
<p>Tiền bạc rồi sẽ là của con,địa vị là tạm thời,vẻ vang là quá khứ,sức khỏe là của mình.</p>
<p>Cha mẹ yêu con vô hạn,con yêu cha mẹ là có hạn.Con ốm đau cha mẹ lo buồn,cha mẹ ốm đau các con nhìn một cái,hỏi đôi ba câu là thấy đủ.Con tiêu tiền cha mẹ thoải mái,cha mẹ tiêu tiền của con thật chẳng dễ.Nhà của cha mẹ là nhà của con,nhà của con không phải là nhà cha mẹ.Khác nhau là thế,người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ,là niềm vui,không mong chờ báo đáp.Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.</p>
<p>Ốm đau trông cậy ai? Trông cậy con ư? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu (cửu bệnh sảng tiền vô hiếu tử).Trông vào bạn đời ư? Người ta cũng yếu,có khi lo cho bản thân còn chưa xong,có muốn đỡ đần cũng không làm nổỉ.Trông cậy vào đồng tiền ư ? Chỉ còn cách ấy.</p>
<p>Cái được,người ta chẳng hay để ý,cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm. Thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao.Người hiểu đời rất quí trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có,và không ngừng phát triển thêm ý nghĩa của nó,làm cho cuộc sống vui hơn,giàu ý nghĩa hơn.Cần có tấm lòng rộng mở,yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng bất túc tỷ hạ hữu dư),biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường lạc).</p>
<p>Tập cho mình nhiều đam mê,</p>
<p>vui với chúng không biết mệt,tự tìm niềm vui.Tốt bụng với mọi người,vui vì làm việc thiện,lấy việc giúp người làm niềm vui.</p>
<p>Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn,tận tâm vì công việc là coi như có cống hiến, có thể yên lòng, không hổ thẹn với lương tâm là được.Huống hồ người ta cũng nghỉ cả rồi, ai cũng thế cuối cùng trở về với tự nhiên.Thực ra ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao.</p>
<table border="0" cellspacing="0" cellpadding="0" width="100%">
<tbody>
<tr>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Quá nửa đời người dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian chẳng còn lại bao nhiêu nên dành cho chính mình,quan tâm bản thân,sống thế nào cho vui thì sống, việc gì muốn làm,thích làm, thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống để người khác thích hay không thích,nên sống thật với mình.</p>
<p>Sống trên đời không thể nào vạn sự như ý, có khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đời, nếu chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm cho khổ sở.Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực thế nào cũng xong.</p>
<p>Tuổi già tâm không già, thế là già mà không già.Tuổi không già mà tâm già,thế là không già mà già.Nhưng xử lý một vấn đề thì nên nghe già.</p>
<p>Sống phải năng hoạt động, nhưng đừng quá mức.Ăn uống quá thanh đạm thì không đủ chất bổ,quá nhiều thịt cá thì không hấp thụ được.Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ, quá ồn ào thì khó chịu.Mọi thứ đều nên &#8220;vừa phải &#8220;.</p>
<p>Người ngu gây bệnh (hút thuốc,say rượu,tham ăn tham uống&#8230;) Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám bệnh) Người khôn phòng bệnh,chăm sóc bản thân,chăm sóc cuộc sống.</p>
<p>Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới khám chữa bệnh&#8230; đều là muộn. Chất lượng cuộc sống của người già cao hay thấp chủ yếu tùy thuộc vào cách tư duy, tư duy hưởng lợi là bất cứ việc gì đều xem xét theo yếu tố có lợi, dùng tư duy có lợi để thiết kế cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và tự tin, cuộc sống có hương có vị; tư duy hướng hại là tư duy tiêu cực,sống qua ngày với tâm lý bi quan,sống như vậy sẽ chóng già chóng chết.</p>
<p>Chơi là một trong những nhu cầu cơ bản của tuổi già,hãy dùng trái tim con trẻ để tìm cho mình một trò chơi ưa thích nhất,trong khi chơi hãy thể nghiệm niêm vui chiến thắng, thua không cay, chơi là đùa.Về tâm lý và sinh lý, người già cần kích thích và hưng phấn để tạo ra một tuần hoàn khỏe mạnh.</p>
<p>&#8220;Hoàn toàn khỏe mạnh&#8221;, đó là nói thân thể khỏe mạnh, tâm lý khỏe mạnh và đạo đức khỏe mạnh. Tâm lý khỏe mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao thiệp.Đạo đức khỏe mạnh và có tình thương yêu, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu.</p>
<p>Con người là con người xã hội (có bản ghi: con người tồn tại trong xã hội), không thể sống biệt lập, bưng tai bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong hoạt động xã hội, thể hiện giá trị của mình, đó là cách sống lành mạnh.</p>
<p>Cuộc sống tuổi già nên đa tầng, đa nguyên, nhiều màu sắc. Có một hai bạn tốt thì chưa đủ, nên có một nhóm bạn già. Tình bạn làm đẹp thêm cuộc sống tuổi già, làm cho cuộc sống của bạn nhiều hương vị, nhiều màu sắc&#8230;</p>
<p>Con người ta chịu đựng, hóa giải và xua tan nỗi đau đều chỉ có thể dựa vào chính mình. Thời gian là vị thầy thuốc giỏi nhất, quan trọng là khi đau buồn bạn chọn cách sống thế nào.</p>
<p>Tại sao khi về già người ta hay hoài cựu (hay nhớ lại chuyện xa xưa) ? Đến những năm cuối đời, ngừời ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân ga cuối, tâm linh cần trong lành, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tìm lại những tình cảm chân thành. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân yêu, cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại niềm vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống.Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già.</p>
<p>Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thể thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả ngắt vội không bao giờ ngọt.<br />
Sinh, lão, bệnh, tử, là qui luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng mà không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu chấm hết thật tròn.</p>
<p>Lê Thanh Dũng dịch.<br />
DHiền sưu tầm và cung cấp</p>
<p><strong>Phongthuybnn.com</strong><strong> </strong></p>
</div>
</div>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/vanhacyb.wordpress.com/5911/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/vanhacyb.wordpress.com/5911/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/vanhacyb.wordpress.com/5911/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/vanhacyb.wordpress.com/5911/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/vanhacyb.wordpress.com/5911/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/vanhacyb.wordpress.com/5911/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/vanhacyb.wordpress.com/5911/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/vanhacyb.wordpress.com/5911/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/vanhacyb.wordpress.com/5911/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/vanhacyb.wordpress.com/5911/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/vanhacyb.wordpress.com/5911/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/vanhacyb.wordpress.com/5911/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/vanhacyb.wordpress.com/5911/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/vanhacyb.wordpress.com/5911/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vanhacyb.wordpress.com&amp;blog=7020745&amp;post=5911&amp;subd=vanhacyb&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/31/tam-s%e1%bb%b1-ng%c6%b0%e1%bb%9di-gia/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/8e6815571642b8969077094b7f6e6713?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">tranvanhac</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Nhà Trịnh Công Sơn mở cửa cho khách tham quan</title>
		<link>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/31/nha-tr%e1%bb%8bnh-cong-s%c6%a1n-m%e1%bb%9f-c%e1%bb%ada-cho-khach-tham-quan/</link>
		<comments>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/31/nha-tr%e1%bb%8bnh-cong-s%c6%a1n-m%e1%bb%9f-c%e1%bb%ada-cho-khach-tham-quan/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 31 Mar 2010 13:12:08 +0000</pubDate>
		<dc:creator>tranvanhac</dc:creator>
				<category><![CDATA[Vui buồn, Suy ngẫm]]></category>
		<category><![CDATA[mo cua]]></category>
		<category><![CDATA[nha trinh]]></category>
		<category><![CDATA[vui buon suy ngam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vanhacyb.wordpress.com/?p=5908</guid>
		<description><![CDATA[&#8211; Vào đúng ngày 1/4, ngôi nhà của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (47C Phạm Ngọc Thạch, Q.3, TP.HCM) sẽ mở cửa cho khách tham quan từ 7h &#8211; 16h. Nơi đây, 9 năm về trước ông đã ra đi và để lại trong lòng âm nhạc VN một gia tài lớn mang tên [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vanhacyb.wordpress.com&amp;blog=7020745&amp;post=5908&amp;subd=vanhacyb&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div id="content">
<p><strong><img src="http://bee.net.vn/bee_logo.png" alt="" /> &#8211; Vào đúng  ngày 1/4, ngôi nhà của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (47C  Phạm Ngọc Thạch,  Q.3, TP.HCM) sẽ mở cửa cho khách tham quan từ 7h &#8211; 16h.  Nơi đây, 9 năm  về trước ông đã ra đi và để lại trong lòng âm nhạc VN  một gia tài lớn  mang tên Nhạc Trịnh.<span id="more-5908"></span></strong></p>
<p>9 năm sau ngày mất của nhạc sĩ tài hoa  Trịnh Công Sơn (1/4/2001 – 1/4/2010), những người hát nhạc Trịnh, yêu  nhạc Trịnh ở TP.HCM lại cùng ngồi bên nhau sẻ chia tình yêu, sự đồng  cảm, cảm xúc mang tên Trịnh. Rất nhiều chương trình ca nhạc, tưởng niệm,  kỷ niệm để người dân TP.HCM cùng hướng về Trịnh trong ngày này.</p>
<p><strong> Điểm nhấn  của người nước ngoài hát Trịnh</strong></p>
<p>Chương trình những ca khúc Trịnh Công  Sơn bắt đầu lúc 20h30 &#8211; 22h30 với không gian lãng mạn, ấm cúng của phòng  trà ATB sẽ đưa khán giả đến với chủ đề “Một cõi đi về”. Chương trình  này diễn ra trong hai đêm 1 và 2/4/2010.</p>
<table width="400" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img src="http://bee.net.vn/dataimages/201003/original/images327938_tcs_1.jpg" alt="Mô tả ảnh." width="400" height="266" align="middle" /></td>
</tr>
<tr>
<td>Richard  Fulle –Trần Phong Phú với tiếng đàn mộc của nghệ sĩ guitar Thế Vinh. <em>Ảnh:  Hội Ngộ</em></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Ngoài ý nghĩa tưởng niệm 9 năm ngày mất  Trịnh Công Sơn, đây còn là liveshow mini tiếng hát ca sĩ người Mỹ  Richard Fulle –Trần Phong Phú với tiếng đàn mộc của nghệ sĩ guitar Thế  Vinh.</p>
<p>Nhân vật chính của hai đêm diễn này,  Richard Fuller đến Việt Nam cuối những năm 1960. Ông sống ở TP.HCM và  dạy Anh ngữ tại trường Apollo. Richard Fuller cho biết, vì yêu quý Trịnh  Công Sơn và rất yêu thích nhạc Trịnh, ông quyết tâm học tiếng Việt và  chọn cho mình tên gọi rất thuần Việt: Trần Phong Phú. Ông cũng là người  bỏ công sức chuyển ngữ nhiều nhạc phẩm Trịnh Công Sơn sang tiếng Anh,  như ca khúc: <em>Nối vòng tay lớn, Diễm xưa, Người con gái Việt  Nam da vàng&#8230;</em></p>
<p>Và nghệ sĩ Thế Vinh, một “Trương Chi”  không chỉ đàn hay mà còn thổi kèn acmonica cũng rất hay những ca khúc  Trịnh Công Sơn. Anh là một nghệ sĩ khuyết tật, cánh tay phải của Thế  Vinh mất từ khi anh 4 tuổi. Nghệ sĩ Thế Vinh tâm sự, khi đến với âm nhạc  Trịnh Công Sơn anh đã hiểu hết ý nghĩa niềm vui sống.</p>
<p>Theo ca sĩ Ánh Tuyết, chị dành đêm  nhạc tưởng nhớ ngày mất Trịnh Công Sơn cho giọng ca không chuyên nhưng  độc đáo này vì nhận được nhiều yêu cầu từ khán giả muốn có đêm diễn  riêng để thưởng thức giọng hát tiếng Việt của Richard Fuller. Đứng ở góc  độ nghệ thuật, ca sĩ Ánh Tuyết nhận xét, Richard Fuller hát nhạc Trịnh  rất có phong cách, hay, ấm nồng và lạ.</p>
<table width="400" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img src="http://bee.net.vn/dataimages/201003/original/images327939_tcs___vc.jpg" alt="Mô tả ảnh." width="400" height="268" align="middle" /></td>
</tr>
<tr>
<td>Trịnh   Công Sơn (phải) và Văn Cao. <em>Ảnh tư liệu</em></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Chủ  đề &#8220;Một cõi đi về&#8221; sẽ bao gồm những  ca khúc về nhân sinh quan, trăn trở giữa cõi đi – về của Trịnh Công Sơn  như <em>Nguyệt ca, Sóng về  đâu, Tưởng rằng đã quên, Chiều một mình qua  phố, Để gió cuốn đi, Xin mặt trời ngủ yên, Một cõi  đi về…</em></p>
<p>Ngoài giọng ca chính của chương trình là  Richard Fuller, không thể thiếu những giọng ca có phong cách riêng như  Ánh Tuyết, Quỳnh Lan, Thuỵ Long, Thuỳ Dương, Phi Thuý Hạnh, Lê Anh…</p>
<p><strong>Vẫn mãi là “sen hồng một độ”</strong></p>
<p>Hội quán Hội Ngộ  &#8211; Làng du lịch Bình  Quới (TP.HCM) và gia đình nhạc sĩ Trịnh Công Sơn quyết định chọn chủ đề  đêm nhạc kỷ niệm 9 năm ngày mất của ông là &#8220;Sen hồng một độ…”. Đêm nhạc  sẽ diễn ra vào tối 2/4/2010, tại Khu du lịch Bình Quới 1 (Q.Bình Thạnh,  TP.HCM). Cũng như mọi năm, chương trình hoàn toàn miễn phí. 1.500 vé mời  đôi đã phát hành tại Hội quán Hội Ngộ &#8211; Khu du lịch Bình Quới 1 chỉ  trong 1 ngày.</p>
<table width="400" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img src="http://bee.net.vn/dataimages/201003/original/images327957_tcs3.jpg" alt="Mô tả ảnh." width="400" height="300" align="middle" /></td>
</tr>
<tr>
<td>Nhạc  sĩ Trịnh  Công Sơn. <em>Ảnh tư liệu</em></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Ban tổ chức cho biết đêm nhạc sẽ được  thực hiện theo “tinh thần” nhạc Trịnh: giản dị, chân thực và sâu sắc. Vì  vậy, những ai chờ đợi một sự hoành tráng trong dàn dựng thì rất có thể  sẽ “thất vọng” khi đến với đêm nhạc. Những ai yêu mến sự lắng đọng, nhẹ  nhàng nhưng đầy nhân sinh quan thì chắc chắn sẽ thấy được sự đồng cảm  sâu sắc trong đêm nhạc này.</p>
<p>Tham gia đêm nhạc vẫn là những giọng hát  nhạc Trịnh nổi tiếng nhiều năm qua như Lan Ngọc, Cẩm Vân, Hồng Nhung,  saxophone Trần Mạnh Tuấn, Quang Dũng và những giọng ca của các ca sĩ  thành viên Hội quán Hội ngộ. Những ca khúc thân quen của Trịnh Công Sơn  sẽ được hát bằng phong cách giản dị, mộc mạc. Một trong những điểm nhấn  là ca khúc chủ đề “Đóa hoa vô thường”.</p>
<p>Ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh &#8211; em gái nhạc  sĩ Trịnh Công Sơn cho biết: nếu  tình hình sức khỏe cho phép, rất có thể  chị cũng sẽ hát một, hai bài  để phục vụ công chúng yêu nhạc Trịnh.</p>
<p><strong>Vinh Giang</strong></p>
</div>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/vanhacyb.wordpress.com/5908/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/vanhacyb.wordpress.com/5908/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/vanhacyb.wordpress.com/5908/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/vanhacyb.wordpress.com/5908/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/vanhacyb.wordpress.com/5908/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/vanhacyb.wordpress.com/5908/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/vanhacyb.wordpress.com/5908/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/vanhacyb.wordpress.com/5908/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/vanhacyb.wordpress.com/5908/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/vanhacyb.wordpress.com/5908/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/vanhacyb.wordpress.com/5908/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/vanhacyb.wordpress.com/5908/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/vanhacyb.wordpress.com/5908/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/vanhacyb.wordpress.com/5908/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vanhacyb.wordpress.com&amp;blog=7020745&amp;post=5908&amp;subd=vanhacyb&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/31/nha-tr%e1%bb%8bnh-cong-s%c6%a1n-m%e1%bb%9f-c%e1%bb%ada-cho-khach-tham-quan/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/8e6815571642b8969077094b7f6e6713?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">tranvanhac</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://bee.net.vn/bee_logo.png" medium="image" />

		<media:content url="http://bee.net.vn/dataimages/201003/original/images327938_tcs_1.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">Mô tả ảnh.</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://bee.net.vn/dataimages/201003/original/images327939_tcs___vc.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">Mô tả ảnh.</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://bee.net.vn/dataimages/201003/original/images327957_tcs3.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">Mô tả ảnh.</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Người phụ nữ Thái hết lòng vì văn hóa dân tạc st</title>
		<link>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/31/ng%c6%b0%e1%bb%9di-ph%e1%bb%a5-n%e1%bb%af-thai-h%e1%ba%bft-long-vi-van-hoa-dan-t%e1%bb%99c/</link>
		<comments>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/31/ng%c6%b0%e1%bb%9di-ph%e1%bb%a5-n%e1%bb%af-thai-h%e1%ba%bft-long-vi-van-hoa-dan-t%e1%bb%99c/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 31 Mar 2010 12:55:08 +0000</pubDate>
		<dc:creator>tranvanhac</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sự kiện nhân vật]]></category>
		<category><![CDATA[phu nu thai]]></category>
		<category><![CDATA[su kien nhan vat]]></category>
		<category><![CDATA[vi dan toc]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vanhacyb.wordpress.com/?p=5901</guid>
		<description><![CDATA[Trần Vân Hạc Khi tôi hỏi thạc sỹ khoa học Lò Mai Cương: - Điều tâm huyết nhất của mình trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy văn hóa Thái là gì? chị tươi cười, trong đôi mắt của chị như có hai đốm lửa: (Thạc Sỹ Lò Mai Cương  &#8211; người đội khăn [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vanhacyb.wordpress.com&amp;blog=7020745&amp;post=5901&amp;subd=vanhacyb&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Trần Vân Hạc</strong></p>
<p>Khi tôi hỏi thạc sỹ khoa học Lò Mai Cương:</p>
<p>- Điều tâm huyết nhất của mình trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy văn hóa Thái là gì? chị tươi cười, trong đôi mắt của chị như có hai đốm lửa:<span id="more-5901"></span><br />
<a href="http://img401.imageshack.us/img401/6886/51433477.jpg" target="_blank"><img src="http://img401.imageshack.us/img401/6886/51433477.jpg" border="0" alt="Free Image Hosting at www.ImageShack.us" width="242" height="181" /></a></p>
<p><em>(Thạc Sỹ Lò Mai Cương  &#8211; người đội khăn piêu, với sinh viên)</em></p>
<p>- Đó là việc bảo tồn và phát triển chữ Thái, đưa chữ Thái vào giảng dạy trong nhà trường và cho người dân.</p>
<p>Còn giám đốc Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Sơn La thạc sỹ văn học Hoàng Kim Ngọc, thủ trưởng trực tiếp của chị vui vẻ:</p>
<p>- Đó là một người tài năng và tâm huyết!<br />
<a href="http://img535.imageshack.us/img535/5200/85729741.jpg" target="_blank"><img src="http://img535.imageshack.us/img535/5200/85729741.jpg" border="0" alt="Free Image Hosting at www.ImageShack.us" width="242" height="288" /></a></p>
<p><em>(Tác giả cùng thạc sỹ Lò Mai Cương)</em></p>
<p>Gặp chị, ai cũng bị cuốn hút bởi tình yêu nghề dạy học và nỗi trăn trở với việc bảo tồn và phát huy vốn văn hóa dân tộc. Là người con của dân tộc Thái, sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống văn hóa, giáo dục. Bố chị là ông Lò Văn Mười, cố trưởng ty giáo dục khu tự trị Thái Mèo, chính ông đã từng khởi xướng và bước đầu thành công trong việc cải tiến chữ Thái. Chị không bao giờ quên được những con chữ đầu tiên do người cha kính yêu dạy. Còn mẹ chị, Cầm Thị Minh là người rất giỏi những điệu “khắp” cổ và sáng tác những tác bài hát mới của dân tộc Thái. Tự bao giờ, những lời ca mượt mà đằm lắng cùng những thiên truyện thơ bất hủ của dân tộc đã thấm vào chị, như mạch nước nguồn trong mát của quê hương không bao giờ vơi cạn.</p>
<p>Do nhiều yếu tố khách quan, người Thái ở Việt Nam có đến 8 hệ chữ khác nhau, bởi vậy việc tìm hiểu kho tàng văn hóa vô giá của tổ tiên để lại gặp nhiều khó khăn. Số người biết chữ ngày một ít đi. Kho tri thức quí báu ấy ngày có nguy cơ mai một. Chưa nói rằng, trước sự phát triển nhanh chóng về mọi mặt của xã hội. Một vấn đề lớn đặt ra là phải có một bộ chữ thống nhất được đưa vào giảng dạy, nhất là phải được số hóa, tạo điều kiện cho lớp trẻ và cộng đồng quốc tế dễ dàng tìm kiếm bằng các công cụ hiện đại của Internet. Chính vì vậy ngay từ khi còn công tác ở trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh Sơn La chị luôn trăn trở với việc xây dựng một bộ chữ chung và số hóa được bộ chữ đó. Nhưng khi bắt tay vào công việc, chị mới thấy có quá nhiều trở ngại, mà trước hết bộ chữ ấy phải đáp ứng được yêu cầu dân tộc và hiện đại, được người Thái ở các vùng miền và quốc tế thừa nhận. Thế là chị không quản ngày đêm, thử nghiệm, so sánh, cải tiến đưa 65/72 mẫu kí tự mã hóa vào Unicode. Chị vui lắm, bởi qua  bộ font chữ cái do chị cải tiến và số hóa này đã được lựa chọn đại diện cho ngôn ngữ của cộng đồng người Thái  Việt Nam và được nhóm kỹ thuật Unicode chọn và cấp mã nguồn. Người Thái ở khắp các tỉnh đều điện về và trực tiếp đến xin chị font chữ về sử dụng và đều rất khâm phục vì hiệu quả cao.</p>
<p>&lt;a href=&#8221;http://img535.imageshack.us/my.php?image=85729741.jpg&#8221; target=&#8221;_blank&#8221;&gt;&lt;img src=&#8221;http://img535.imageshack.us/img535/5200/85729741.jpg&#8221; alt=&#8221;Free Image Hosting at www.ImageShack.us&#8221; border=&#8221;0&#8243;/&gt;&lt;/a&gt;</p>
<p>Không thể kể hết được công sức của chị khi bắt tay nghiên cứu công trình này từ đầu những năm 90 và được thông qua từ năm 2005. Song chị không muốn nói về mình, chị thầm lặng cho ra đời nhiều đứa con tinh thần được cộng đồng người Thái và nhân dân các dân tộc nâng niu, đón nhận, đó là những áng văn, thơ, tục ngữ ca dao, những pho sử thi nổi tiếng của dân tộc Thái: “Tiễn dặn người yêu”, “Tục ngữ, ca dao Thái”… “Tâm tình tiếc thương”,  “Tâm tình trêu ghẹo yêu thương… Chương trình dạy chữ Thái của chị cùng nhóm nghiên cứu đã được triển khai dạy trong trường Cao đẳng Sư phạm và toàn tỉnh. <span style="text-decoration:underline;"> </span></p>
<p>Mấy năm gần đây khi Đảng và Nhà nước có chủ trương đưa ngôn ngữ dân tộc vào giảng dạy trong nhà trường và dạy cho cán bộ, viên chức đang công tác ở vùng miền núi và dân tộc khi và “Mạng lưới bảo tồn tri thức bản địa dân tộc Thái” (VTIK), thuộc Trung tâm vì sự phát triển bền vững miền núi (CSDM) ra đời, chị như được chắp thêm đôi cánh.</p>
<p>Với cương vị là trưởng phòng bồi dưỡng, chị có thêm nhiều điều kiện để phát huy năng lực và ước nguyện của mình. Chị được giao nhiệm vụ phụ trách công việc bồi dưỡng tiếng và chữ Thái các trường dân tộc nội trú của 11 huyện thị, cho giáo viên, học sinh, cán bộ, viên chức, lực lượng vũ trang.</p>
<p>Đặc biệt năm 2010 này chị tham gia nhiều mảng đề tài về chữ viết, phong tục tập quán, trang phục… trong đề tài nghiên cứu cấp tỉnh: “Giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Thái ở Sơn La trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do chính  ủy viên trung ương Đảng, bí thư tỉnh ủy, chủ tịch Hội đồng Nhân dân, trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Sơn La Thào Xuân Sùng là chủ nhiệm đề tài.</p>
<p>Người viết bài này có quá trình sống và làm việc ở Tây Bắc 30 năm, quen biết gia đình chị đã lâu, mỗi lần đến thăm gia đình chị lại càng thêm khâm phục người chồng yêu quí của chị đã vượt lên mọi định kiến hẹp hòi, cổ hủ để quán xuyến việc nhà, chăm sóc con nhỏ cho chị đi học 6 năm trời để có bằng đại học và thạc sỹ suốt từ năm 1989 và dành cho chị thời gian nghiên cứu khoa học.</p>
<p>Chị không dấu nguyện vọng cháy bỏng của mình:</p>
<p>- Anh ạ, chữ Thái được hồi sinh, nhiều người đã đọc thông viết thạo, em hạnh phúc vô cùng, bởi đó là cánh cửa mở ra để các thế hệ con cháu kế thừa và phát huy những giá trị tinh thần tốt đẹp của cha ông.</p>
<p>Hướng về phía trời xa, chị trầm ngâm:</p>
<p>- Hiện nay Bảo tàng tỉnh Sơn La có đến 3.000 cuốn sách bằng chữ Thái cổ, nhưng kho tài sản vô giá ấy liệu có bền vững mãi trước sự tác động của thời gian? Em chỉ muốn được lãnh đạo các cấp quan tâm cho phép số hóa kho sách ấy giữ cho muôn đời con cháu!</p>
<p>Tôi thật sự khâm phục tài năng, nghị lực, tâm huyết và thành công của chị. Dẫu biết rằng năm nay chị 48, cái tuổi đang độ chín. Phải chăng ước mơ cháy bỏng của người cha kính yêu năm nào, cùng khát vọng từ bao đời đã tiếp thêm ngọn lửa niềm tin và tình yêu văn hóa Thái đã chắp cánh cho chị, để chị có đủ niềm tin, nghị lực và sự sáng tạo tuyệt vời, thực hiện được những tâm nguyện, hoài bão đẹp đẽ của mình với quê hương, với dân tộc.</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/vanhacyb.wordpress.com/5901/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/vanhacyb.wordpress.com/5901/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/vanhacyb.wordpress.com/5901/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/vanhacyb.wordpress.com/5901/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/vanhacyb.wordpress.com/5901/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/vanhacyb.wordpress.com/5901/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/vanhacyb.wordpress.com/5901/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/vanhacyb.wordpress.com/5901/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/vanhacyb.wordpress.com/5901/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/vanhacyb.wordpress.com/5901/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/vanhacyb.wordpress.com/5901/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/vanhacyb.wordpress.com/5901/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/vanhacyb.wordpress.com/5901/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/vanhacyb.wordpress.com/5901/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vanhacyb.wordpress.com&amp;blog=7020745&amp;post=5901&amp;subd=vanhacyb&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/31/ng%c6%b0%e1%bb%9di-ph%e1%bb%a5-n%e1%bb%af-thai-h%e1%ba%bft-long-vi-van-hoa-dan-t%e1%bb%99c/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/8e6815571642b8969077094b7f6e6713?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">tranvanhac</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://img401.imageshack.us/img401/6886/51433477.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">Free Image Hosting at www.ImageShack.us</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://img535.imageshack.us/img535/5200/85729741.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">Free Image Hosting at www.ImageShack.us</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Tiếng chuông nguyện cầu Hòa Bình trên đỉnh Trường Sơn</title>
		<link>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/31/ti%e1%ba%bfng-chuong-nguy%e1%bb%87n-c%e1%ba%a7u-hoa-binh-tren-d%e1%bb%89nh-tr%c6%b0%e1%bb%9dng-s%c6%a1n/</link>
		<comments>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/31/ti%e1%ba%bfng-chuong-nguy%e1%bb%87n-c%e1%ba%a7u-hoa-binh-tren-d%e1%bb%89nh-tr%c6%b0%e1%bb%9dng-s%c6%a1n/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 31 Mar 2010 05:39:11 +0000</pubDate>
		<dc:creator>tranvanhac</dc:creator>
				<category><![CDATA[Bầu bạn bốn phương]]></category>
		<category><![CDATA[hoa binh]]></category>
		<category><![CDATA[tieng chuong]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vanhacyb.wordpress.com/?p=5893</guid>
		<description><![CDATA[Ký của Mai Thục Ngày thương binh liệt sĩ, tôi có cơ duyên về thăm Nghĩa trang Trường Sơn lần thứ tư cùng với những người thương binh của Công ty TNHH Hòa Bình, do ông Nguyễn Hữu Đường làm Tổng giám đốc. Chúng tôi xúc động chứng kiến cuộc hội ngộ tâm linh và [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vanhacyb.wordpress.com&amp;blog=7020745&amp;post=5893&amp;subd=vanhacyb&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong> Ký của Mai Thục </strong></p>
<p>Ngày thương binh liệt sĩ, tôi có cơ duyên về thăm Nghĩa trang Trường Sơn lần thứ tư cùng với những người thương binh của <strong>Công ty TNHH Hòa Bình</strong>, do ông Nguyễn Hữu Đường làm Tổng giám đốc. Chúng tôi xúc động chứng kiến cuộc hội ngộ tâm linh và niềm tri ân của những người còn sống với đồng đội ngã xuống chiến trường xưa trong lễ khánh thành hai tháp chuông, hai quả chuông lớn tại Nghĩa trang Trường Sơn, Nghĩa trang Đường 9, và xây dựng mở rộng nhà tiếp đón thân nhân liệt sĩ tỉnh Quảng Trị, do Công ty TNHH Hòa Bình cung tiến.<span id="more-5893"></span></p>
<p>Hơn ba mươi năm sau cuộc chiến, con đường qua núi thẳm, sông sâu Hà Nội- Quảng Trị giờ đây đã có những cây cầu nối hai bờ chia cắt Bắc- Nam, những ngôi làng cháy, những ngọn đồi đỏ, đã thắm lại màu xanh… Đường vào Nghĩa trang Trường Sơn không còn lầm bụi, rừng cao su và hoa lá đại ngàn thức dậy lời ru đau đáu tình người, quằn quại nghĩa nước non.</p>
<p>Nghĩa trang Trường Sơn. Những ngọn gió lang thang gọi những linh hồn. Bầu trời xanh nhạt, mây trắng rải màu tang. Tiếng gọi <em>Đồng đội ơi!</em> Âm vang chớp bể mưa nguồn, động đất dày, lay trời cao, rung rừng già, hang đá… “ <em>Tôi gọi mãi mà sao đồng đội không thưa, mà mưa cứ rơi mà gió cứ thét. Giặc đã chạy rồi sao cứ thẳng hàng như vậy. Bia rượu nhiều, sao không đứng dậy mà vui. Tôi gọi mãi không ai trả lời. Lạnh trắng một màu cắt da, cắt thịt. Tổ quốc sum vầy sao các anh đâu? Đồng đội ơi! Trắng xóa những linh hồn trắng. Mây cứ bay và bướm trắng chập chờn. Hương khói trắng để lòng ta trắng lặng. Đồng đội ơi! Chớp bể mưa nguồn. Đồng đội ơi! Dù năm tháng không nguôi. Xin hãy về cho tôi được khóc. Đồng đội ơi! Chớp bể mưa nguồn</em>…” ( Thơ Trương Vĩnh Tuấn, nhạc Nguyên Giang).</p>
<p>Nghĩa trang Trường Sơn. Rừng già thâm u, nắng chứa chan và gió thì thào như tiếng của vạn triệu linh hồn đợi phút tiếng chuông đồng vọng Âm- Dương, vang lên khúc nguyện cầu Hòa Bình trên đỉnh Trường Sơn. Trước tượng đài tưởng niệm mờ khói hương, những thương binh vết chân tròn, thân tâm nhức nhối, nước mắt rơi, nghiêng mình cầu nguyện Đức Thích Ca Mâu Ni và Chư Phật Bồ Tát ngự trên cây Bồ Đề xum xuê tỏa ánh sáng xanh linh diệu ôm một vùng hương khói. Cây Bồ Đề xứ Phật bỗng nhiên mọc sau đài hương từ ngày đầu xây dựng là một hiện tượng kỳ diệu, nay xòa chín cội, quấn quýt lá cành xanh miên man tỏa tình yêu thương, vỗ về những linh hồn Trường Sơn. Quá nửa đời da diết thương đau, hôm nay giọt nước mắt của những “người lính già đầu bạc” thảng thốt cầu nguyện tiếng chuông của Phật ngân vang xuyên cả nghìn thế giới, giáo hóa chúng sinh sống Hòa Bình, bác ái, cứu khổ, cứu nạn cho con người, hãy vang lên trên đỉnh Trường Sơn cháy lửa này…</p>
<p>Tâm nguyện ấy được ấp ủ khi cuộc chiến vừa tàn, nhưng phút này đây, họ mới đủ duyên xây tháp chuông, đặt quả chuông nặng hơn một tấn phía sau cây Bồ Đề. Phút giây thiêng, im lặng, đợi chờ…TGĐ Nguyễn Hữu Đường thỉnh chuông. Không gian thẳm lặng thâm u ngàn đời bỗng rung ngân tiếng chuông nguyện cầu Hòa Bình. Tiếng chuông vang lên, lúc đầu nó nằng nặng, âm âm, u u trong gió, như tiếng của thế giới linh hồn trào lên, nức nở…rồi tiếng chuông dần bay, tan hòa Âm- Dương, gặp gỡ giao thoa…tiếng chuông thấm nước mắt linh hồn, chảy vào máu tim của những thương binh, dạt dào thành tiếng hát: “ <em>Hãy gióng lên hồi chuông vọng đất trời, gọi anh linh bao người ngã xuống. Hồi chuông thiêng liêng, khắc cốt ghi xương bao đồng đội hy sinh. Hãy gióng lên hồi chuông yêu Hòa Bình. Ba hồi chiêu mộ rung tâm trí. Ngọn lửa anh linh rực đất trời. Hãy gióng lên hồi chuông nguyện cầu Hòa Bình .</em> <em>Muôn dặm non sông nặng nghĩa tình</em>…”</p>
<p>( Thơ Giáo sư Vũ Khiêu, nhạc CLB Đồng Đội).</p>
<p>Nghiã trang Trường Sơn. Tiếng chuông thiêng liêng ngân trong gió nắng xua mây mù tăm tối. Rừng già rung chuyển khúc nguyện cầu Hòa Bình bay vào vũ trụ, ghi sâu vào lòng mọi con dân đất Việt hôm nay và mãi mãi mai sau:</p>
<p><em>Bát ngát Trường Sơn hồn liệt sĩ</em></p>
<p><em> Dạt dào Đông Hải khí anh linh</em></p>
<p><em> Ba hồi chiêu mộ rung tâm trí</em></p>
<p><em> Muôn dặm non sông nặng nghĩa tình</em></p>
<p>( Thơ G.S Vũ Khiêu khắc trên chuông )</p>
<p>Phút giây thiêng, những thương binh thỉnh chuông. Tiếng chuông khắc  nỗi đau chinh chiến, truyền tới các thế hệ mai sau thông điệp Hòa Bình. Tôi và nhà thơ Đỗ Bạch Mai thỉnh chuông. Tiếng chuông đau thương của những người mẹ, người vợ, người bà Việt Nam kêu gọi Hòa Bình vì sự sống của con người. Tiếng chuông nguyện cầu chiến tranh không tái diễn…</p>
<p>Nghĩa trang Trường Sơn. Những ngôi mộ thẳng hàng ngang hàng dọc. Những ngôi mộ không tên và có tên trắng lặng những ngọn đồi trùng điệp. Và còn hàng vạn nắm xương khô rơi dọc bìa rừng, ngọn suối, hang sâu, chân đồi, gốc cây già, hòn đá lạnh… Xin những linh hồn hãy về cho chúng tôi được khóc theo tiếng chuông ngân nguyện cầu chiến tranh đừng bao giờ lặp lại trên mảnh đất Việt Nam tươi xanh cỏ cây, hoa trái, con người, cánh đồng, làng mạc, đồi rừng, sông ngòi, trời, biển &#8230;</p>
<p>Nghĩa trang Trường Sơn. Ba hồi chuông chiêu mộ chuyển đất trời, gọi những linh hồn tụ hội. Tiếng các anh khắc khoải gọi mẹ: “<em>Việt Nam ơi! Việt Nam. Núi cao như tình mẹ, suốt đời mang nặng những thương đau…”.</em> Những linh hồn trở về tụ hội trong ngôi nhà Tâm của mẹ Việt Nam kéo theo những con dân Việt Nam tản trên khắp hoàn cầu, trở về chung tay xây dựng lại đất mẹ Việt Nam theo tiếng chuông nguyện cầu Hòa Bình vang trên đỉnh Trường Sơn. Tiếng chuông là lời kêu gọi chúng sinh trong cả nghìn thế giới, hãy sống bằng tình yêu thương và trí tuệ, xóa bỏ hận thù và bạo lực, của Chư Phật Bồ Tát. Giờ đây, tiếng chuông nguyện cầu Hòa Bình vang trên đỉnh Trường Sơn mỗi sớm, mỗi chiều là hiệu lệnh tâm linh, nhắc con ngườiViệt Nam sống trong tình yêu thương- trí tuệ thông hai cõi Âm- Dương. Bạn Việt Nam ơi! Dù bạn ở chân trời, góc bể nào thì hãy trở về cùng nhau thỉnh tiếng chuông nguyện Hòa Bình trên đỉnh Trường Sơn.</p>
<p>Nghĩa trang Trường Sơn. Dưới bóng cây Bồ Đề, tiếng anh Nguyễn Hữu Đường vang theo tiếng chuông ngân: “<em>Ngày giỗ trận năm nay, tiếng chuông Phật ngân minh chứng lời cầu nguyện của chúng tôi. Cầu nguyện những anh linh liệt sĩ siêu thoát, phù hộ cho đất nước Hòa Bình, thoát đói nghèo, con người sống với nhau yêu thương, trí tuệ, công bằng, bác ái”. </em>Linh hồn Trường Sơn nghe tiếng chuông Phật nâng siêu thoát, hoan hỉ giữa trời đất, gió trăng, tiếp sức cho những người còn sống. Theo tiếng chuông ngân, hồn tôi bay lên gặp gió mây trời, gặp hồn thiêng liệt sĩ tiếp thêm sức mạnh tâm linh, lòng thanh sạch, xua tan bụi trần. Nhà báo Đỗ Quảng thì thầm bên tôi: “Trên đời này điều quan trọng nhất là không có cái gì quan trọng cả. Sắc sắc, không không. Hư vô. Mình cứ vô tư mà vui sống, đừng nô lệ bất cứ một thứ gì”.</p>
<p>Nguyễn Hữu Đường cao hứng tâm sự:</p>
<p>- Tôi khổ đau, thất vọng nhiều nên sớm tìm đến thế giới tâm linh mà nương tựa. Tôi trải nghiệm được những điều khó lý giải về sức mạnh tâm linh. Khi lòng người trong sạch, tâm sáng, trí bền, không làm điều ác, không hận thù, gian dối, tham lam, phụ bạc, ích kỷ, kiêu căng… hành động tốt vì vạn sự trên trái đất, sống chân thật, yêu thương… thì sức mạnh tâm linh sẽ tới, hỗ trợ, cứu nạn, nâng ta vượt hiểm nguy, chướng ngại. Tôi được tâm linh cứu nhiều, cả về công việc, làm ăn, kể cả tính mạng của mình và người thân…nên sợ lắm, không dám ăn ở độc ác. Có lần tôi đi chuyên cơ với Thủ tướng sang nước ngoài, máy bay bị dính sét, mọi người sợ tái xám, thở hắt ra, tôi ngồi cầu nguyện, mặt tỉnh bơ, đến khi thoát nạn, tôi cười thanh thản, an bình, làm ai cũng ngạc nhiên… Tôi luôn nhủ mình gìn giữ cái tâm của mình sáng, để tiếp nhận được ánh sáng tâm linh. Tôi làm doanh nghiệp, coi trọng chữ tâm, chữ tín, trung thực, đàng hoàng, và không bao giờ quên dành một khoản tiền trợ cứu người nghèo và vun đắp văn hóa tâm linh. Năm 2000, chúng tôi bắt đầu đúc chuông cung tiến vào chùa vì tôi theo Phật, hiểu Phật dùng tiếng chuông để cứu khổ, cứu nạn cả nghìn cõi, nhưng nhiều chùa Việt Nam lại không có chuông. Năm 2001 về thăm lại chiến trường  Quảng Trị, chúng tôi ngủ ở nhà đón tiếp thân nhân liệt sĩ, thấy chật, không đủ chỗ, lòng áy náy không yên, nên bàn nhau tích cóp tiền, nay xây thêm một căn nhà ba tầng 900m2, giúp người thân liệt sĩ bớt khó khăn khi về thăm mộ…        Chúng tôi cung tiến hai quả chuông đặt ở Nghĩa trang Đường 9 và Nghĩa trang Trường Sơn bởi ước nguyện của nhân dân cả nước muốn cầu siêu cho các linh hồn người lính và những linh hồn vô tội chết vì cuộc chiến tranh, được siêu thoát, để hai cõi Âm- Dương giao hòa, giữ lành linh khí núi sông, đồng đất Việt Nam, giúp cuộc sống xã hội bình an. Nhưng muốn cầu siêu thì phải có chuông. Tiếng chuông Phật là tiếng mở cửa cõi Âm gọi các linh hồn bay lên siêu thoát. Khi được phép đúc chuông đặt trên đỉnh Trường Sơn, tôi lo nhất là chuông không kêu. Ông cha ta đã có lần đúc chuông không phát ra âm thanh, phải để xuống ruộng gọi là chuông Qui Điền. Chuông kêu phụ thuộc yếu tố tâm linh và kỹ thuật đúc chuông, cái tâm sáng của người đúc. Đến nay, chúng tôi đã đúc hai mươi quả chuông cung tiến, người đúc chuông là Dũng còn rất trẻ, con một người thợ đúc đồng Ngũ Xã. Dũng đã cố gắng làm ngày, làm đêm, đúc hai quả chuông này trên bãi cỏ An Dương- Hà Nội, đất trời, thần Phật và anh linh các liệt sĩ phù hộ, những ngày đúc chuông đều được nắng, nên hôm nay trên đỉnh Trường Sơn, mỗi tiếng chuông ngân trong không gian một phút rưỡi. Chúng tôi xúc động trào nước mắt. Đồng đội ơi! Chúng tôi thỉnh chuông mời các anh lên, nguyện cầu Hòa Bình cho đất nước. Mong các anh phù hộ độ trì cho cuộc sống của mọi nhà, mọi người được bình yên…</p>
<p>Rời Nghĩa trang Trường Sơn, chúng tôi nghe các anh thương binh Công ty Hòa Bình kể về cuộc hành trình vật vã áo cơm của mình sau cuộc chiến trên phố phường Hà Nội. Họ như đám bèo tụ lại trong cơn lũ. Hai mươi năm rồi, họ vẫn không sao quên được bao nỗi khó khăn, vất vưởng, nhọc nhằn. Sức tàn, lực kiệt họ cùng nhau hợp thành một khối, tự tạo việc làm, sống chết có nhau, không xin xã hội chiếu cố, mà gồng lên bằng tấm lòng thương binh yêu thương, đùm bọc. Họ nói về Nguyễn Hữu Đường với tình cảm mến phục, biết ơn người thủ lĩnh hào hiệp đã “ liều mình như chẳng có” tìm mọi cách học tập kỹ thuật sản xuất, tổ chức kinh doanh, giữa muôn vàn sấm chớp để họ có một Công ty Hòa Bình đầy sức mạnh hôm nay. Lời kể chuyện nghẹn ngào, khiến người kể và người nghe đều rớm lệ:</p>
<p>- Hết chiến tranh chúng tôi về phố, không ai còn lành lặn đủ hai bàn chân, hai con mắt, hai bàn tay…Tôi bị chấn thương sọ não, vết sẹo dài hơn gang tay lõm trên đầu, anh em gọi tôi là “Hà sẹo chó”. Tôi lúc tỉnh, lúc say, khi mê, khi mệt, khi sầu… biết làm gì để sống? Nhờ anh Đường vực chúng tôi dậy, mà có ngày hôm nay, tiền tiêu không hết, bia rượu uống nhòe, con cháu có việc làm, nghĩa tình gia đình, bạn bè đầy ắp… Anh Đường dẫn chúng tôi dò từng bước qua cơn cùng cực. Mới đầu bán bia hơi ở vỉa hè, sau mở nhà máy sản xuất bia, làm men bia không kém kỹ thuật Đức…Chúng tôi phải nén bụng “cầm nhà” vay tiền xây nhà máy. Có kẻ muốn hại, anh em quây lại tìm mưu sách vượt qua. Tôi đầu trơ vết sẹo, đi gõ cửa khắp nơi nói rõ sự thật, tình đời. Chúng tôi không ngửa tay xin, mà chỉ đòi công bằng, làm ăn đúng luật. Anh em tôi sống với nhau bằng tình hảo hán. Ai gặp nạn, anh Đường cứu. Anh Đường gặp nạn, chúng tôi cứu. Tâm linh cứu. Tôi không sao cầm được nước mắt mỗi khi nhớ lại cái hôm người thân anh gặp tai nạn giao thông. Tuyệt vọng. Anh một mình đi trong đêm mưa Hà Nội, ngửa cổ kêu trời gọi đất, nguyện cầu thần Phật. May sao Âm phù, Dương trợ, gia đình anh vượt được tai họa khủng khiếp ấy… Anh Đường chẳng có nhiều bằng cấp mà là thông minh vốn sẵn trời cho. Mỗi lần có dịp ra nước ngoài, anh học nhập tâm kỹ thuật của bạn về ứng dụng làm ăn, nay Công ty Hòa Bình chẳng kém ai, có thể làm ăn với thế giới. Có lúc anh ngồi hàng giờ ngắm tăm nổi trên cốc bia để tự điều chỉnh chất lượng. Chúng tôi nể phục cái trí, cái tình của anh, mà sống chết vì anh. Tôi nguyện suốt đời làm đệ tử của anh…</p>
<p>Tôi chưa một lần đến thăm những cơ ngơi cao đẹp của các anh, nhưng  nhiều lần viết về TGĐ Nguyễn Hữu Đường và Công ty Hòa Bình đã công đức hơn hai trăm triệu đồng phục dựng lại ngôi đền thờ Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ ở Khuyến Lương- Hà Nội. Ngôi đền duy nhất Việt Nam do nhân dân xây để thờ Đức Bà Nguyễn Thị Lộ cách đây đã vài trăm năm, bị hoang phế, nay được xây lại khang trang, linh thiêng để góp phần giải oan và tôn vinh một nhân vật lịch sử đã chịu oan khuất gần sáu trăm năm. Ngôi đền thờ Nguyễn Thị Lộ sống dậy còn ghi dấu “<em>Góc thành Nam, lều một gian</em>” của danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi. Tôi và nhà giáo Hoàng Đạo Chúc cùng những người yêu Nguyễn Trãi- Nguyễn Thị Lộ cảm phục Nguyễn Hữu Đường có một tầm cao văn hóa tâm linhViệt nên mới ra tay công đức xây lại ngôi đền thờ Nguyễn Thị Lộ, nhưng tôi chưa bao giờ gặp anh. Bất ngờ, tôi gặp Nguyễn Hữu Đường trên đỉnh Trường Sơn bát ngát anh linh hồn liệt sĩ trong tiếng chuông ngân nguyện cầu Hòa Bình. Bóng dáng anh giản dị, chân thành, mộc mạc một tâm hồn Hà Nội đậm chất văn hóa tâm linh. Tôi thầm nghĩ hồn thiêng Việt anh linh ngàn đời đã chọn Nguyễn Hữu Đường và đồng đội của anh được đặt hai quả chuông lớn của Phật trên đỉnh Trường Sơn nguyện cầu Hòa Bình. Họ đã cùng nhân dân kết nối tinh hoa văn hóa Việt, tâm hồn Việt với tinh hoa văn hóa phương Đông, như ông cha ta nghìn xưa.</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/vanhacyb.wordpress.com/5893/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/vanhacyb.wordpress.com/5893/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/vanhacyb.wordpress.com/5893/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/vanhacyb.wordpress.com/5893/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/vanhacyb.wordpress.com/5893/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/vanhacyb.wordpress.com/5893/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/vanhacyb.wordpress.com/5893/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/vanhacyb.wordpress.com/5893/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/vanhacyb.wordpress.com/5893/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/vanhacyb.wordpress.com/5893/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/vanhacyb.wordpress.com/5893/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/vanhacyb.wordpress.com/5893/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/vanhacyb.wordpress.com/5893/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/vanhacyb.wordpress.com/5893/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vanhacyb.wordpress.com&amp;blog=7020745&amp;post=5893&amp;subd=vanhacyb&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/31/ti%e1%ba%bfng-chuong-nguy%e1%bb%87n-c%e1%ba%a7u-hoa-binh-tren-d%e1%bb%89nh-tr%c6%b0%e1%bb%9dng-s%c6%a1n/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/8e6815571642b8969077094b7f6e6713?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">tranvanhac</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Hòa bình – máu và nước mắt</title>
		<link>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/29/hoa-binh-%e2%80%93-mau-va-n%c6%b0%e1%bb%9bc-m%e1%ba%aft/</link>
		<comments>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/29/hoa-binh-%e2%80%93-mau-va-n%c6%b0%e1%bb%9bc-m%e1%ba%aft/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 29 Mar 2010 05:47:15 +0000</pubDate>
		<dc:creator>tranvanhac</dc:creator>
				<category><![CDATA[Bầu bạn bốn phương]]></category>
		<category><![CDATA[hoa binh]]></category>
		<category><![CDATA[mau]]></category>
		<category><![CDATA[nuoc mat]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vanhacyb.wordpress.com/?p=5891</guid>
		<description><![CDATA[Kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30 tháng 4 năm 1975 – 30 tháng 4 năm 2010 Hòa bình – máu và nước mắt Nguyễn Văn Thịnh (T.P.HCM) Những ngày đầu một năm mới căng thẳng và ảm đạm trong giới chóp bu trươc nguồn tin mới nhất: [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vanhacyb.wordpress.com&amp;blog=7020745&amp;post=5891&amp;subd=vanhacyb&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong><em><span style="text-decoration:underline;"> </span></em></strong></p>
<p><strong><em><span style="text-decoration:underline;">Kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước</span></em></strong></p>
<p><strong><em> <span style="text-decoration:underline;">30 tháng 4 năm 1975 – 30 tháng 4 năm 2010</span></em></strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p style="text-align:center;"><strong>Hòa bình – máu và nước mắt</strong><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Nguyễn Văn Thịnh (T.P.HCM)</strong></p>
<p><strong><em>N</em></strong>hững ngày đầu một năm mới căng thẳng và ảm đạm trong giới chóp bu trươc nguồn tin mới nhất: Tổng Thống Mỹ cử viên tướng bốn sao làm đặc sứ mang tối hậu thư tới Sài Gòn. Dù bít kín trong bao nhưng điều cốt yếu vẫn xì dò ra: Nếu Thiệu còn ương ngạnh thì Washington không nhân nhượng nữa. Họ sẽ ký hiệp định riêng với phía bên kia. Khi ấy sẽ lộ rõ ra ai cản trở hòa bình? Kết quả sẽ là sự chấm dứt đáng tiếc không thể tránh khỏi về nhiều mặt! Đó không còn là lời đe dọa. Chuyện gì đã xảy ra với một ông chủ có toàn quyền, mọi người từng biết.<span id="more-5891"></span></p>
<p>Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris về lập lại hòa bình ở miền Nam Việt Nam, được bốn bên liên quan đồng ký.</p>
<p>Khi những người đại diện chưa rời Hội trường trung tâm<em> </em>của khách sạn Hoàng Gia trên đại lộ Kléber thì ở Sài Gòn, Tổng Thống <em>Việt Nam cộng hòa</em> đã lắc đầu, xua tay, công khai tuyên bố bốn không: <em>Không hòa bình – Không liên hiệp – Không đối lập và Không chịu để mất một mảnh đất nào</em>! Thực ra, <em>quân đội cộng hòa</em> đã được lệnh thực thi <em>Chiến dịch</em> <em>tràn ngập lãnh thổ</em> từ trước đó. Cờ <em>quốc gia</em> theo lính hành quân phơ phất khắp nơi: ngoài bờ ruộng, trên cây, trước sân, vẽ cả trên mỗi nóc nhà tôn. Chỗ nào có cờ là đất của quốc gia. Việt cộng làm sao chơi lại? Bà Nguyễn Thị Bình trả đũa: Nơi nào có tiếng súng là lãnh địa của <em>Mặt trận giải phóng</em>. Chớ đất của quốc gia thì quân các ông hà cớ chi nổ súng?!</p>
<p>Ông Mười bí mật vào thành, gặp từng nội tuyến. Ông giáo Phú nhận định:</p>
<p>- Tuy giới cầm quyền có hoang mang nhưng họ còn tin vào những lời hứa hẹn của Nixon. Họ vẫn nghĩ miền Nam không thể bị bỏ rơi, cụ thể năm nay còn được nhận hai tỷ mốt Dollar viện trợ. Không ít người vẫn hy vọng dựa vào viện trợ Mỹ, quân lực <em>Việt Nam cộng hòa</em> sẽ được vực dậy, phía bên kia không làm gì nổi.</p>
<p>Vẫn tác phong điềm tĩnh, chậm rãi của người từng trải và bản lĩnh, ông Mười phân tích:</p>
<p>- Hiệp định có nhiều khoản, nhiều điều, nhưng cốt lõi là: Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta được quốc tế tôn trọng. Hoa Kỳ ngưng mọi hoạt động quân sự ở Việt Nam, đồng thời rút hết quân đội, cố vấn và sẽ không tiếp tục dính líu quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam. Không có chuyện miền Bắc rút quân. Lực lượng quân sự hai bên ở miền Nam án binh tại chỗ xen nhau như hình da báo. Mọi chuyện ở miền Nam là việc nội bộ do người Việt Nam cùng giải quyết. Vấn đề còn lại của ta là không để cho quân Mỹ viện bất cứ lý do gì để ỳ lại ở miền Nam và ở đây, các lực lượng yêu chuộng hòa bình và hòa hợp dân tộc phát triển nhanh và mạnh, hợp tác chặt chẽ với <em>Mặt trận dân tộc giải phóng</em> thành một lực lượng thống nhất, cô lập và áp đảo thế lực hiếu chiến bấy lâu nay đã gắn chặt với ngoại bang. Bây giờ là lúc ta phải mau chóng xây dựng lực lượng thứ ba đa dạng, đặc biệt là giới trí thức thành thị. <em>Chấn dân khí </em>đúng là lúc này đây!<em> </em>Những hoạt động phong phú của những người trí thức sẽ thức tỉnh tinh thần dân tộc và dấy lên lòng yêu nước ở mọi người.</p>
<p>Lúc này ông giáo mới hiểu vì sao khi hai bên trao trả tù binh, Thủy Tiên đã không chịu ở lại vùng giải phóng. Cô khăng khăng nhận chỉ là người yêu nước hoạt động tự phát trong giới sinh viên nên phải để cô ở lại Sài Gòn. Chuyện rắc rối mãi rồi nhà cầm quyền cũng đành chịu vậy. Ông bà vì thương cháu nên không muốn cô ở lại thành phố bởi mình đã có tiền sự với người ta, chuyện gì sẽ xảy ra, sao lường trước được.</p>
<p><strong>S</strong>au ngày có Hiệp định, Văn Khoa với Bích Liên từ Paris bay về để gặp Thủy Tiên. Văn Khoa xoay được tấm thẻ <em>Ký giả tự do</em> của một tờ báo Pháp. Anh có mặt ở Hà Nội, bên bờ sông Thạch Hãn và Lộc Ninh, viết bài về trao trả tù binh. Anh thất vọng vì không thấy Thủy Tiên đâu. Nhận được tin của Bích Liên báo Thủy Tiên đang ở Sài Gòn, anh không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Ngày gặp bạn, anh cứ rối rít cả lên :</p>
<p>- Thật sự tôi không hiểu gì về cuộc chiến này. Ai là thù và ai là bạn?</p>
<p>Thủy Tiên cười:</p>
<p>- Kẻ thù là loài qủy dữ ngoại bang và những ai bán linh hồn cho qủy. Bạn là những người trong tim còn mang dòng máu Việt Nam và những ai yêu chuộng tự do, công lý.</p>
<p>Anh xúc động so sánh tù binh của ba phía trong ngày trao trả:</p>
<p>- Cũng là người Việt Nam của hai phía đánh nhau bị bắt vào tù. Xem về số lượng và mức độ tàn phế của những người tù thì bên giải phóng đông hơn nhiều vơí những thân hình tàn tạ đáng thương lắm nhưng họ tỏ rõ khí phách của người chiến thắng trở về với đội ngũ chiến đấu của mình. Một bên thì trái lại, từng tốp người rời rạc với những khuôn mặt gượng gạo, và những bước đi lạc lõng.</p>
<p>- Thế còn lính Mỹ? Bích Liên tò mò.</p>
<p>Anh Văn Khoa gật gù, trầm ngâm như một triết nhân:</p>
<p>- Ngồi tù mà họ không mất đi dáng dấp của dân quí tộc. Gần sáu trăm tù binh,  đa phần là những sỹ quan phi công bị bắt khi mang bom dội xuống đầu người ta bất kể người già, trẻ con hay phụ nữ. Họ không hồng hào tươi tốt như đồng đội của họ đến đón nhưng trông còn phong độ và khỏe mạnh hơn cả những sỹ quan và binh lính từng bắt và nuôi giữ họ. Mỗi người được mặc bộ quần áo sạch sẽ, tươm tất, vừa khổ, khoác áo ấm, mang giày da, túi xách trong chứa lỉnh kỉnh những kỷ vật: dép lốp, mũ rơm, mũ cối, quạt nan, mành trúc, tranh Đông hồ, bánh trưng… Một người giơ ra khoe chiếc ví cá nhân anh ta mang trong người từ ngày bị bắt tám năm về trước vẫn còn nguyên vẹn giấy tờ tùy thân, ảnh vợ con và cả một ít Dollar. Họ không lộ rõ vẻ vui buồn. Có lẽ họ hài lòng vì thoát chết, thoát cảnh tù giam hãm. Còn vương một nét gì đó của sự đắng cay nhưng không ra vẻ hận thù.</p>
<p>Mọi người mải nghe anh kể rồi ngồi lặng yên. Ông giáo Phú giơ lên tờ nhật báo với tít đề lớn và đậm nét: <strong><em>Ngày 27 tháng 3 năm 1973, tại sân bay Tân Sơn Nhất, những sỹ quan cuối cùng của quân lực Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam</em></strong>. Kèm theo là tấm hình những viên sỹ quan cao lớn tay xách nách mang uể oải bước lên cầu thang, chui tọt vào lòng chiếc máy bay đề chữ U.S. AIR FORCE trước sự chứng kiến của những sỹ quan nhỏ bé của các lực lượng kháng chiến Việt Nam, đã làm tan đi không khí trầm lắng đó. Ông trang nghiêm nói như lúc đứng trên bục giảng:</p>
<p>- Lịch sử dân tộc mình lạ lắm. Bao nhiêu lần giặc đến mạnh như vũ bão mà tan cũng cấp kỳ. Người thắng chỉ cần đòi lại được vật gia bảo của mình – đó là chủ quyền dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, dù cho nhà cửa tan hoang. Kẻ thua lui gót trong sự tống tiễn hoan hỉ của  chủ nhà – Ông đọc một khúc trong <strong><em>Bình Ngô đại cáo</em></strong><strong>:</strong></p>
<p><em>Trời thử lòng trao cho mệnh lớn</em></p>
<p><em> Ta gắng trí khắc phục gian nan</em></p>
<p><em> Nhân dân bốn cõi một nhà,</em></p>
<p><em> dựng cần trúc ngọn cờ phất phới</em></p>
<p><em> Tướng sỹ một lòng phụ tử,</em></p>
<p><em> hòa nước sông chén rượu ngọt ngào</em></p>
<p><em> Thế trận xuất kỳ</em></p>
<p><em> lấy yếu thắng mạnh</em></p>
<p><em> Dùng quân mai phục</em></p>
<p><em> lấy ít địch nhiều</em></p>
<p><em> Đem đại nghĩa để thắng hung tàn</em></p>
<p><em> Lấy chí nhân để thay cường bạo</em>…</p>
<p>Nét mặt hân hoan cảm xúc của ông lan sang mọi người.</p>
<p>Văn Khoa cảm động nắm tay Thủy Tiên:</p>
<p>- Anh đã lấy được bằng Tiến sỹ kinh tế học. Bây giờ anh muốn được em giao cho một việc gì vừa để giúp em, vừa khỏi phải xa em!</p>
<p>Thủy Tiên nép vào người bạn trai tin tưởng.</p>
<p><strong>T</strong>hủy Tiên làm cô giáo dạy Văn ở trường tư thục Cổ Loa của ông giáo Kiến. Theo nghề dạy vừa có nhiều thời gian hoạt động, vừa có chỗ đứng nói và gây ảnh hưởng với quần chúng để tuyên truyền và được bảo vệ. Cô tham gia tổ chức <em>ủy ban phụ nữ đòi quyền sống. </em></p>
<p>- Cái ủy ban ấy làm được những chuyện gì ? – Văn Khoa tỏ sự nghi ngờ.</p>
<p>- Trới ơi! Anh sống độc thân suốt đời thôi. Trên đời này có điều gì mà không liên quan đến đời sống của người phụ nữ đâu? Chiến tranh, chết chóc, điêu tàn, tù đày, tan vỡ… làm sao người phụ nữ ở yên được chơ? Phụ nữ phải được sống trong sự yên bình. Chỉ có chấm dứt chiến tranh, người phụ nữ mới yên tâm về chồng, về con, mới có hạnh phúc gia đình thật sự. Phụ nữ là người thiết tha với hòa bình hơn ai hết. Thực chất quyền sống của phụ nữ lúc này là hòa bình. Anh có ủng hộ không?</p>
<p>- Nhưng em nói có ai nghe không?</p>
<p>- Mình nói phải củ cải nghe cũng được. Trước hết có lọt được vào tai anh và mọi người trong nhà mình không đã? Thủ lĩnh của em là bà Ngô Bá Thành – một vị Giáo sư Tiến sỹ luật học rất giỏi và có lương tâm, được giới trí thức và sinh viên kính nể! Bà hoạt động nghề nghiệp nhiều năm ở Pháp, ở Anh và ở Mỹ, rất có tín nhiệm. Nhưng bà từ bỏ cuộc sống yên bình và mộng giàu sang, về nước, tích cực tham gia các phong trào đòi hòa bình cho xứ sở và quyền sống của người phụ nữ Việt Nam. Bà là người sáng lập đồng thời là linh hồn của phong trào và cũng là người phụ nữ trí thức tiêu biểu của thành phố hiện nay. Bà công khai đấu tranh trực diện quyết liệt lắm. Những lý lẽ bà đưa ra, nhà cầm quyền không bắt bẻ gì được. Nhưng họ vu cáo để bắt giam, cách ly bà ra khỏi phong trào yêu nước. Trong tù bà đã rút guốc đập nát tấm hình tên Tổng Thống bán nước. Tòa án binh kết án bà 5 năm tù vì tội <em>phá rối trị an, lập hội bất hợp pháp, oa trữ tài liệu, ấn phẩm làm suy yếu tinh thần chiến đấu của quân đội</em>. Em đã được sống chung với bà ở các nhà tù Chí Hòa, Thủ Đức, Tân Hiệp… Sức bà yếu nhưng nghị lực của bà như thép, bọn cai ngục ở đâu cũng phải nể phục. Tiếng nói của bà có sức cảm hóa với cả những vị chức sắc tôn giáo và những trí thức còn mơ hồ muốn tách mình ra ngoài cuộc. Chị em nữ tù coi bà là một tấm gương sáng về tinh thần đấu tranh thông minh, trí tuệ và bất khuất. Em coi bà như người thầy thần tượng. Giá mà có thật nhiều người trí thức biết hiến dâng như bà thì đất nước mình càng mau hòa bình thống nhất.<em> </em></p>
<p>Văn Khoa xịu mặt xuống :</p>
<p>- Nhưng người ta có tin tôi không?</p>
<p>- Mình có làm thì người ta mới biết mà tin chớ!</p>
<p>- Tôi nghe nói cộng sản đố kỵ khắt khe lắm. Họ không tin ai ngoài người thuộc giai cấp họ!</p>
<p>- Người nọ đố kỵ người kia. Cứ đứng mà so đo ngại ngùng thì chẳng làm được gì. Mỗi người hãy xếp lại định kiến về nhau để nhìn hiện tình đất nước. Những người yêu nước chống ngoại xâm không phải tất cả đều là cộng sản. Tại sao ta không ngồi lại với nhau bàn chuyện hòa hợp, hòa giải sau bao nhiêu năm sống trong nghi ngờ đối kháng để cho dân tình điêu linh, đất nước chia lìa?</p>
<p>- Liệu tôi sẽ làm được điều gì ?</p>
<p>- Trong giới trí thức còn không ít người tự coi là thức thời vì chẳng theo ai! Họ có thấy một thực tế là đất nước mình bao nhiêu năm dưới sự thống trị của ngoại bang và cũng bấy nhiêu năm lớp hậu sinh vẫn tiếp bước tiền nhân không ngại hy sinh, quyết đấu tranh đòi chủ quyền dân tộc và thống nhất đất nước? Người trí thức có lương tâm mà sao dửng dưng được trước thời cuộc như thế mãi? Anh quen nhiều người trong giới ấy. Anh hãy nói sao để họ bỏ đi cái vỏ bọc trung lập mơ hồ, có thái độ dứt khoát tẩy chay cái chính quyền bợ đỡ ngoại bang phản dân hại nước này và sẵn sàng gia nhập lực lượng thứ ba, hợp tác với <em>Mặt trận</em> và <em>Liên minh</em> để thành lập một <em>Chính phủ liên hiệp ba thành phần </em>nay mai. Với vai trò phóng viên, anh viết bài vạch trần âm mưu của người Mỹ đứng sau phá đám và tội ác của bọn người vong quốc chỉ biết lợi ích của riêng mình.</p>
<p>- Nhưng liệu có bị người ta làm rầy rà liên lụy hay không?</p>
<p>- Đụng tới nhà cầm quyền đương nhiên họ chẳng chịu để mình yên đâu. Có điều tới mức độ nào thì làm sao em biết được?</p>
<p>Văn Khoa suy nghĩ hồi lâu, trả lời từ tốn :</p>
<p>- Dù sao giữa tôi với bên kia còn cách nhau một cái hố sâu. Phải có thời gian để cho hai phía hiểu nhau. Trước hết anh có thể làm những việc nào em cần đến.</p>
<p>Thủy Tiên cười :</p>
<p>- Mấy anh trí thức ăn cơm tây nhiều đa nghi qúa. Em cũng có phải là người của họ đâu. Nhưng thấy việc gì phải mà làm được là em xông vào. Anh có thấy chiến tranh liên miên, toàn đàn ông con trai chết trận, bao nhiêu goá phụ với bầy con nheo nhóc đang đói lả, bao nhiêu người già không nơi nương tựa đang âm thầm mòn mỏi trong các xóm vắng nhà hoang. Từ Trung phần tới miệt Lục tỉnh, tuy là đã có Hiệp định hoà bình nhưng vẫn ngập tràn khói lửa, tang thương. Người ta vẫn chết. Người đói nhiều hơn! Liệu đất nước này sẽ tới đâu?</p>
<p><strong>V</strong>ăn Khoa được người bạn gái động viên, anh mạnh dạn dần lên trong công việc. Bác giáo và anh phối hợp với nhau làm được nhiều việc hữu ích. Nhận được những nguồn tin gốc từ bên Pháp, Mỹ, anh đều thông báo kịp thời cho bác. Những tin tức từ nghị trường bác cung cấp cho anh kịp thời đưa lên mặt báo khắp nơi. Cảnh sát và giới ký giả trong nước đều nhẵn mặt anh.</p>
<p>Một ngày cuối tháng chín năm 1974, anh dự cuộc ra mắt của <em>Mặt trận nhân dân cứu đói</em> tại một ngôi chùa ở ngay quận Nhất. Trước mặt cả chục ngàn người, một nữ dân biểu xinh đẹp, tha thướt trong chiếc áo dài truyền thống, đã vén tay áo lên, bình thản dùng dao chích cho một dòng máu chảy vào một cái ly trên tay một nữ sinh phụ hứng. Với cây bút lông, tay tiên bão táp mưa sa viết nên dòng chữ máu trên mảnh lụa trắng cùng lúc một giọng Huế ngọt ngào đĩnh đạc vang lên lời tuyên chiến: <strong><em>Vì tự do, cơm áo và hoà bình của đồng bào. Chúng tôi đòi Tổng thống Thiệu phải từ chức</em></strong>! Còn hơn cái tát vào mặt kẻ phương diện quốc gia kia! Ngay lập tức, giới truyền thông tung ra toàn thế giới.</p>
<p>Ngày <em>Ký giả đi ăn mày</em> 10 tháng Mười, Văn Khoa cũng đội nón lá, vai đeo bị cói, tay chống gậy đi bộ lẫn lộn trong đám hàng trăm ký giả với hàng ngàn người hưởng ứng từ công trường Lam Sơn tới chợ Bến Thành, vào dảo quanh khắp chợ. Bị của người nào người nấy đều căng phồng lên đủ thứ quà của dân chúng nồng nhiệt <em>bố thí</em> cho ký giả thất nghiệp vì một sắc luật khắt khe của nhà cầm quyền. Tối về, anh thật vui khoe với Thủy Tiên một việc làm đầy ý nghĩa của mình vì anh biết trong đám đông ấy có không ít người của <em>phía bên kia</em>. Sáng hôm sau anh có mặt sớm ở trụ sở Hạ nghị viện để phát huy thắng lợi. Nhưng lần này bị cảnh sát đàn áp thẳng tay.</p>
<p>Thủy Tiên tất tả vào bệnh viện Grall thăm anh. Văn Khoa mặt mày xây xát, nằm trên giường đang nói chuyện với bác giáo và một người bạn. Nhưng khi thấy Thủy Tiên xuất hiện, anh cảm thấy ngượng, vội quay mặt vào tường. Thủy Tiên tưởng anh đau đớn, cô cúi xuống vuốt tóc và lướt nhẹ môi trên má anh, an ủi :</p>
<p>- Anh bị thương ở chỗ nào? Có đau đớn lắm không?</p>
<p>Anh không trả lời mà lại giơ tay lên che mặt. Bác giáo cười kín đáo. Anh bạn mặt tỉnh bơ, nhìn cô gái đầy ý nghĩa :</p>
<p>- Bọn này phản phúc lắm. Nó nhằm thẳng vào cái <em>phủ đầu rồng</em> của người ta mà tấn công mới man rợ chớ!</p>
<p>Thủy Tiên rướn mắt lên nhìn hai người, rồi cũng hiểu ra. Mặt cô đỏ dừ lên, lặng lẽ ngồi xa ra, không dám hỏi han thêm một câu nào. Văn Khoa vẫn nằm yên cho tới lúc có một người lạ mặt đeo kiếng đen to tướng xuất hiện. Y đứng giữa phòng, cất tiếng oang oang hỏi trống không:</p>
<p>- Tôi hỏi ông Vũ Văn Khoa?                                                                         Điệu bộ ấy, mọi người đều đoán biết y là ai và đấy chỉ là câu hỏi chiếu lệ thôi vì không đợi có sự đáp lời, y tiến thẳng tới đầu giường người bệnh, đưa ra chiếc phong bì:</p>
<p>- Ông có quốc tích Pháp? Chỗ đau của ông sẽ hết trong vài ngày. Ông có lệnh phải rời khỏi Sài Gòn không qúa bảy ngày kể từ hôm nay!</p>
<p>Văn Khoa ngồi bật dậy:</p>
<p>- Tôi còn có quốc tịch Việt Nam !</p>
<p>Y cười khẩy:</p>
<p>- Nếu ông nhận quốc tịch Việt Nam thì chúng tôi càng dễ xử! – Y ném toạch chiếc phong bì xuống giường người bệnh và vênh vác đi ra.</p>
<p>Thủy Tiên nhìn Văn Khoa với ánh mắt dịu dàng, thương mến. Còn anh thì buồn rười rượi. Anh bạn lắc đầu tỏ ý bất lực :</p>
<p>- Không đùa dai với bọn này được đâu!</p>
<p>Trên đường về, ngồi trên xe, bác giáo hỏi cháu:</p>
<p>- Nó thương cháu lắm nên mới lăn vào cuộc?</p>
<p>- Cháu cũng cảm thấy như thế nhưng chưa dám nói thật với anh ấy!</p>
<p>- Bác tin là dù có phải đi nhưng nó vẫn chờ cháu đấy! Anh ta là người chân thật.</p>
<p>Thủy Tiên như nén lại điều gì, hồi lâu mới nói:</p>
<p>- Bác ơi! Cháu coi bác như cha. Những ngày trong tù, chúng nó làm cho cháu không có khả năng sinh nở nữa! – Cô dụi vào vai bác, nước mắt đầm đìa.</p>
<p>Một tay nắm vô lăng xe, một tay ông giáo vỗ về an ủi cháu :</p>
<p>- Bác thật không ngờ sự đời tai nghiệt thế!</p>
<p>Thủy Tiên lấy lại sự bình tĩnh và nói ra một điều cô vẫn thao thức trong lòng:</p>
<p>- Cháu nghĩ sự thể như thế lại hay. Dù sao anh ấy vào cuộc cũng chưa được chuẩn bị kỹ càng. <span style="text-decoration:underline;"> </span></p>
<p>Ông giáo nhìn đứa cháu gái gặp nghịch cảnh từ tuổi ấu thơ, cảm nhận một điều gì đó con bé chưa nói hết ra.</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong><strong>ô</strong><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>N</strong>hân Tín và anh Chu cùng được vinh thăng cấp hàm đại tá. Là sỹ quan trẻ tin cẩn, Nhân Tín được giao trọng trách ở <em>Phòng Hành quân</em> – <em>Bộ Tổng tham mưu</em>. Bác giáo hỏi:</p>
<p>- Người Mỹ rút đi, đất nước mình đang diễn ra cảnh <em>huynh đệ huých tường</em>, các anh nghĩ làm sao?</p>
<p>Nhan Tín không cần suy nghĩ:</p>
<p>- Cháu chẳng nghĩ làm sao cả. Mình không huých thì người ta cũng huých mình. Như hai con dê đi ngược chiều nhau qua một cây gỗ làm cầu. Một sống, hai chết, thế thôi!</p>
<p>- Chả lẽ biết chết mà cũng cứ húc đầu vào?</p>
<p>- Làm sao người Mỹ bỏ mình chết được. Họ phải rút quân là để đối phó với dân tình nước họ. Không có nghĩa là họ để mặc xác mình. Từ ngày lập quốc, người Mỹ chưa chịu thua ai bao giờ!</p>
<p>Anh Chu cười trêu:</p>
<p>- Có thua là mình thua chớ người Mỹ có thua đâu? Họ đã rút hết quân rồi!</p>
<p>Nhân Tín đỏ mặt lên:</p>
<p>- Họ còn có danh dự là một siêu cường. Họ phải có trách nhiệm với cả thế giới tự do và là chỗ dựa tin cậy của các quốc gia đồng minh nữa. Nếu không thì ngay sau khi ký Hiệp định, Tổng Thống Nixon mời Tổng Thống Thiệu sang Mỹ làm gì?</p>
<p>Ông giáo cười khà khà:</p>
<p>- Chẳng những thế mà ông Nixon còn tâng ông Thiệu lên hàng một trong bốn vị Tổng Thống giỏi nhất thế giới hiện thời! Là sự vô tình hay ác ý vì mấy vị kia đã đổ nhào? Cũng giống như ông Johnson từng thổi ông Diệm như là Churchille của Châu á mà rồi họ để cho ông ta chết thảm hại thế nào!</p>
<p>Ông giáo nhìn viên đại tá trẻ, như nói với một cậu học trò:</p>
<p>- Dân gian mình có câu: <em>Cơn nước lớn  thuyền ai nấy lạo</em> cháu có biết không?.</p>
<p>Nhân Tín hăng lên:</p>
<p>- Ngay khi ký Hiệp định, người Mỹ đã im lặng ủng hộ ta <em>ngừng chiến nhưng không ngừng bắn</em>. Chỉ để cho mấy anh nhà quê <em>hai bên</em> ấy ngồi lỳ trong sân bay Tân Sơn Nhất thôi. Còn ở các quân khu, tỉnh lỵ, tên nào ở rừng mới ló đầu ra đã bị ta cho ăn đạn, đều bỏ chạy tán loạn. Từ miền Trung vào tới trong này, quân lực <em>Việt Nam cộng hòa</em> chủ động tấn công, lấn chiếm đất đai, mở rộng lãnh thổ chiếm đóng đang làm cho họ co vòi lại đó! Duy có miệt từ Chương Thiện (Cần Thơ) tới U Minh, do đối phương phản ứng quyết liệt, lại cách trở và xa Sài Gòn qúa nên cục diện chưa có gì thay đổi. Sức mạnh của quân lực <em>Việt Nam cộng hòa</em> không dễ bị coi thường đâu!</p>
<p>- Liệu nó có gánh nổi sức nặng của hơn nửa triệu quân Mỹ và quân Đồng minh để lại đây không? – Ông giáo nghi ngờ.</p>
<p>Đại tá Chu giữ vẻ điềm đạm của người lớn tuổi:</p>
<p>- Với lệnh tổng động viên nam giới từ 18 đến 38 tuổi, quân số chủ lực hiện lên tới gần một triệu hai, đủ bù vào chỗ trống của quân Đồng minh để lại, cộng với gần hai triệu lực lượng bán vũ trang là <em>Phòng vệ dân sự</em> mà các đội <em>Bình định nông thôn</em> và <em>Phượng hoàng</em> thống kê lên.</p>
<p>Nhân Tín hớn hở cướp lời:</p>
<p>- Ba triệu người võ trang đầy đủ với 13 sư đoàn tinh binh, trên tổng số dân ở miền Nam này chưa tới 20 triệu người. Trên thế giới có quốc gia nào võ trang được như vậy không? Chưa kể việc người Mỹ hứa vẫn tiếp tục duy trì viện trợ quân sự và kinh tế, số máy bay chiến đấu, quân xa, tàu, thuyền phục vụ lực lượng Lục quân và Hải quân cùng những kho vũ khí khổng lồ các loại mà quân Đồng minh để lại đây, quân lực <em>Việt Nam cộng hòa</em> dư sức trường kỳ kháng chiến!</p>
<p>Bác giáo nhìn cháu lắc đầu:</p>
<p>- Mình chiến đấu bằng vũ khí người ta cấp, bằng cái dạ dày đầy rượu tây, thịt hộp của người ta cho, bằng cái đầu do người ta nghĩ hộ mà hai con mắt mình nhắm lại thì sớm muộn gì mình cũng chỉ còn là cái xác thôi!</p>
<p>Ông cười chua chát:</p>
<p>- Trong chiến tranh, vũ khí quan trọng thật. Nhưng điều quan trọng hơn là nó nằm trong tay ai? Cháu có sẵn sàng chết cho những ông tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng, nghị sỹ, chính khách, tướng tá các loại đang thi nhau vơ vét và tuồn tiền của ra nước ngoài, tậu sẵn biệt thự, nhà hàng, góp cổ phần kinh doanh ở các công ty, trong khi chiếc vé máy bay xuất cảnh nằm sẵn trong túi họ. Khi cần, ù một cái! Ai sẽ phơi thây trên chiến địa?</p>
<p>Anh Chu đứng dậy, chép miệng thở dài:</p>
<p>- Cứ đánh tới đâu thì tới! Suy cho cùng thì họ chỉ to mồm hò hét thôi. Thằng nào dại cứ xông lên. Được thì họ hưởng. Mà thua họ cũng chẳng mất gì!</p>
<p>Nhân Tín như pháo tịt ngòi, mặt bí xị.</p>
<p>Chu ra về, dừng lại nơi cửa, nói nhỏ với bác giáo:</p>
<p>- Hôm trước cháu đưa vợ con ra chơi chợ Bến Thành. Tình cờ gặp đoàn quân sự bên <em>Mặt trận giải phóng</em> cũng tới đấy. Cháu đứng bên này đường, nhìn thấy một người giống anh Ba Phát qúa !</p>
<p>Ông giáo buồn rười rượi:</p>
<p>- Tôi chưa hiểu diễn biến sẽ ra sao? Nhưng cứ để tình hình này kéo dài mãi thì đau lòng lắm!</p>
<p><strong>T</strong>hị trấn Lộc Ninh đã là thủ phủ của <em>Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam</em>. Phố xá còn ngổn ngang đổ nát nhưng những ngôi nhà mới dù tạm bợ đã mọc lên san sát. Nơi đây công khai trở thành cửa khẩu giữa hai bên. Chợ búa, đường phố, xen lẫn với dân, có không ít người mặc bộ đồ bà ba và quân phục màu cỏ úa mà trước kia ít thấy xuất hiện giữa chỗ đông người. Đôi lúc gặp cả phóng viên báo chí nước ngoài. Một số cơ quan dân sự của chính quyền cách mạng lộ diện không cần giấu giếm.</p>
<p>Trong khi ở nhiều nơi, kế hoạch <em>Tràn ngập lãnh thổ</em> của quân đội Sài Gòn tưởng như hữu hiệu, Tổng Thống Thiệu tuyên bố: <em>Cuộc</em> <em>chiến tranh Đông Dương thứ ba</em> <em>bắt đầu</em>! Và<em> </em>cho quân đánh thẳng vào các vùng thánh địa của phía bên kia và kêu gọi tái chiếm Lộc Ninh! Tháng 10 năm 1973, hàng chục tốp máy bay chiến đấu dội bom, bắn phá thủ phủ Lộc Ninh. Người chết khắp nơi, trong nhà, ngoài đường, giữa chợ… Bệnh viện Lộc Ninh bị hủy diệt. Hàng trăm người bệnh lẫn lộn cán bộ, chiến sỹ và nhân dân bị thương vong.</p>
<p>Nhân Trí được biệt phái ra tăng cường cho bệnh viện phục vụ những người tù mới được trao trả, thoát chết nhờ anh đã từng trải qua những trận bom pháo ngoài chiến trường Quảng Trị. <em>Quân giải phóng</em> toàn miền Nam được lệnh đánh trả bất cứ hành vi nào của địch vi phạm Hiệp định Paris. Bộ đội đặc công Rừng Sát đánh vào khu kho dự trữ Nhà Bè, thiêu cháy hàng trăm triệu lít xăng, nhận chìm tàu chở dầu 12 ngàn tấn và phá hủy toàn bộ cơ sở lọc dầu ở đây.</p>
<p>Anh Ba Phát bị bắt trong chiến dịch Mậu Thân, được Nhân Tín giải thoát và gia đình ông giáo Phú giúp đưa về căn cứ. Lại trở về đơn vị chiến đấu và khi có Hiệp định Paris, anh được tổ chức công khai đưa về thành phố trong phái đoàn quân sự của <em>Chính phủ cách mạng lâm thời</em>. Với con mắt của người cán bộ trinh sát dày dạn đã từng tung hoành ở thành phố, anh ghi nhận những sự chuyển động của phong trào đô thị và thay đổi trong việc bố phòng khi quân Mỹ đã rút đi.</p>
<p>Trong tình thế mới, anh được gọi về căn cứ, báo cáo những điều mắt thấy, tai nghe:</p>
<p>- Quân ngụy tuy còn nhiều, vũ khí không thiếu nhưng không thể so sánh với quân đội Mỹ. Trước đây, khi hành quân chung với quân Mỹ, họ ỷ lại vào mọi sự từ trinh sát, chỉ huy, tới chi viện của hỏa lực phi pháo và cơ giới vô tội vạ. Bây giờ dù sao thì cũng là đội quân sống nhờ vào sự xin xỏ nên từ quan tới lính đều thấy lúng túng, hụt hẫng và thiếu thốn, mất sự tự tin từ dưới lên trên, đến cả chỗ dựa vào người Mỹ cũng bị lung lay ở cả trong hàng ngũ sỹ quan cao cấp và chính giới. Sở dĩ họ mở rộng được phạm vi chiếm đóng vì ngay từ đầu họ chủ trương không thi hành Hiệp định mà ta thì có phần e ngại quân Mỹ kiếm cớ lỳ ở lại hoặc ít ra cũng tăng cường viện trợ quân sự nhiều hơn. Nhưng bây giờ, quân Mỹ đã rút hết đúng theo tinh thần Hiệp định. Quốc hội Mỹ đã nản lòng nhận ra sự dính líu tới xứ sở xa xôi kỳ lạ này lợi ít, hại nhiều. Ta không có lý do gì để đối phương có thì giờ kích động lại tinh thần binh lính, bọn tướng tá và chính khách vong bản liên kết lại với nhau, củng cố chính quyền, đàn áp các phong trào yêu nước ở thành thị. Khi không còn quân Mỹ bỏ mạng ở đây, áp lực dư luận của công chúng Mỹ sẽ lắng xuống, chính phủ Mỹ có cớ để ủng hộ chính quyền tay sai, sẽ tranh thủ được dư luận quốc tế. Từ cuộc chiến tranh giải phóng sẽ chuyển hóa thành nội chiến và có thể kéo dài, càng gây thêm nhiều đau thương tang tóc cho đồng bào cả hai miền Nam-Bắc.</p>
<p>Vị cán bộ lãnh đạo thông báo trước hội nghị:</p>
<p>- Trung ương quyết tâm không để cho chiến tranh kéo dài. Không để cho quân ngụy có thì giờ lại sức sẽ gây khó khăn thêm. Ngay cả về mặt trận đối ngoại cũng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, ảnh hưởng thiết thực tới sự chi viện cho ta. Các nước lớn vì những yêu cầu bức bách của họ nên có những thỏa hiệp ngầm. Ngoài biển khơi, lợi dụng lúc lực lượng hải quân Mỹ đã rút đi, hải quân Sài Gòn giảm sút sức chiến đấu, còn ta thì lu bu trong đất liền, người bạn láng giềng đã cho quân đổ bộ lên chiếm lĩnh quần đảo Hoàng Sa và một số đảo ở khu vực Trường Sa. Phải thừa nhận ta thiếu nhạy bén  trong công tác chỉ đạo vừa qua. Sau hiệp định Genève, ta chủ trương <em>giải quân</em>-<em>chôn súng chờ ngày tổng tuyển cử</em>… Hậu quả là sự mất mát không sao lường được! Sau hiệp định Paris lần này, ta <em>lơi tay súng trông vào hiệp thương hòa giải</em>. Trong khi lực lượng vũ trang của ta <em>gò cương – vỗ béo</em> thì đối phương ra sức lấn đất giành dân… Ta đồng thời phê phán thái độ hữu khuynh của các địa phương để mất đất, mất dân và biểu dương những địa phương chủ động sáng tạo đấu tranh giữ đất, giữ dân với địch và mở rộng được khu giải phóng. Trung ương nhanh chóng củng cố và phát triển các đơn vị chủ lực làm quả đấm thép. Các địa phương cấp tốc tăng trưởng lực lượng quân sự và tổ chức quần chúng. Đặc biệt đẩy mạnh công tác binh địch vận vì lúc này ta có điều kiện thuận lợi để khơi dậy tinh thần dân tộc ở mỗi công dân, sẽ làm tan rã tinh thần sỹ quan, binh lính ngụy quyền khi thời cơ đến.</p>
<p>Anh Ba Phát được giao nhiệm vụ chỉ huy một trung đoàn bộ binh cùng trung đoàn tăng của trung tá Hoàng Tuấn trong đội hình một Quân đoàn mới hình thành trên chiến trường Nam Bộ.</p>
<p>Nhân Trí trở về đơn vị đúng vào lúc ấy.</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong><strong>ô</strong><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Đ</strong>ại tá Nhân Tín không còn giữ được phong thái trẻ trung, lạc quan hồ hởi như trước nữa. Mặt anh lúc nào cũng khó đăm đăm, khó gợi chuyện, khó gần. Giữa năm 1974, Tổng Thống Mỹ Nixon buộc phải rời khỏi Nhà trắng giữa nhiệm kỳ vì vụ Water Gate vi phạm hiến pháp Hoa Kỳ. Ông thiếu tướng bố vợ đã về hưu nhận định:</p>
<p><em>- Con diều hâu</em> cốm nhất mà ông Thiệu còn hy vọng dựa vào đã bị gãy cánh rồi! Quốc hội Mỹ giảm tài khoản viện trợ xuống còn chưa tới một tỷ rưỡi Dollar, liệu có đủ sức nuôi quân và một bày ăn bám, lại còn bù vào số hao hụt của kho tàng dự trữ chiến tranh nữa hay không? Ông Thiệu rồi cũng nối gót thầy, sẽ phải rời khỏi <em>phủ đầu rồng</em> lúc chưa mãn nhiệm kỳ. Còn giữ được mạng là đại phúc!</p>
<p>Ông là người thức thời, cao tay, đã thu xếp đưa cả đại gia đình ra nước ngoài di trú trước. Ông giải thích cho con rể:</p>
<p>- Phong thổ đất nước mình không được là rồng. Chỉ nằm sau cái đuôi con rồng thôi. Sung sướng hay đau đớn, nó đều quậy tưng bừng là mình tanh bành tan nát! Mình ra đi lúc này là hợp thời khắc nhất, không bị tranh giành cướp giật và không ai chê cười gì được. Càng sớm lại càng dễ làm ăn.</p>
<p>Cái lon đại tá trên vai nhẹ hều mà khó gỡ. Anh đành tạm biệt vợ con, hy vọng ngày tái ngộ không lâu nhưng ở đâu thì ông thầy bói ranh mãnh lẩy một bài thơ cổ : <em>Chàng tại Tương giang đầu – Thiếp tại Tương giang cuối – Cách nhau dòng sông sâu – Vạn cổ cảnh đeo sầu</em>! Vợ anh đẫm nước mắt vì mấy câu thơ chết tiệt mơ hồ ấy.</p>
<p>Còn lại một mình một bóng, ngoài giờ làm việc hay đi tiêu khiển với bạn bè, anh thường về nhà mẹ. Anh hỏi:</p>
<p>- Bác và mợ có định đi đâu không?</p>
<p>- Bích Liên nó nói nhớ mợ, đòi về nhà nghỉ hè nhưng mợ bảo chờ xem đã. Mợ thấy ông bà nhạc gia bên ấy tính vậy mà hay đấy. Mợ còn chờ ý của bác anh ?</p>
<p>Ông giáo gật gù, nói lấp lửng:</p>
<p>- Ra đi lúc này không phải là sớm mà cũng chưa phải là muộn!</p>
<p>- Phía bên kia đang chuyển sang thế tấn công. Một loạt căn cứ trọng yếu Bù Đăng, Bù Đốp, Đồng Xoài và toàn tỉnh Phước Long, Phước Bình bị mất. Tây Nguyên bị đe dọa nghiêm trọng. Vậy mà các ông tướng ở <em>Bộ Tổng tham mưu</em> chẳng thấy có vẻ gì là bận tâm lo lắng cả. Còn Tổng Thống thì cứ ngong ngóng chờ ngoại viện!</p>
<p>Ông giáo trừng mắt lên:</p>
<p>- Còn lo lắng nỗi gì? Chính ông tướng <em>Tổng tham mưu trưởng</em> khi bị các ngài dân biểu chất vấn đã nói trắng ra rằng: <em>Chúng ta không có trách nhiệm về chiến tranh. Trách nhiệm chiến đấu ở đây là người Mỹ. Chính sách đó do họ đề ra. Chúng ta chỉ làm theo họ mà thôi</em>! Đủ các loại tướng lĩnh quan chức chiến tranh nổi danh của Mỹ còn bỏ cuộc, huống chi mấy ông tướng chỉ nổi danh tán gái mà đánh trận thì cũng nổi danh chạy trước? Họ đang bận gom góp của cải lo cho vợ con tẩu tán hơn là lo việc quân, việc nước. Nền <em>đệ nhị cộng hòa</em> đang thở ngáp cá. Dù có xì cho chút khí oxy cũng chỉ cầm hơi thêm chút nữa thôi!</p>
<p>- Bây giờ thì cháu nghi ngờ vào lòng dạ của người Mỹ! Tài khóa viện trợ cho năm tới lại bị cắt giảm tới mức chỉ còn 700 triệu Dollar thôi. Dù rằng có mấy ông tru tréo lên đòi xin những 5 tỷ Dollar cho 5 năm viện trợ! Người Mỹ đổ vào đây cả ngàn tỷ Dollar rồi chứ? Họ hào phóng thật nhưng phải chi vào việc gì sinh lợi, chớ không tại sao họ phải bỏ cuộc giữa chừng trong khi tiềm lực họ còn dư sức? Chẳng lẽ họ cứ phải chi cho một lũ cáy tham nhũng từ đám chóp bu cho tới lũ nha lại đặc như ruồi hay sao? Quân đội trong tình cảnh ấy thì còn đánh đấm cái nỗi gì?</p>
<p>Lần đầu tiên, ông giáo nhận ra nỗi chán chường bế tắc ở đứa cháu một thời như con ngựa nhởn nhơ phi rỡn giữa đồng cỏ mênh mông. Ông vừa mừng, vừa thương, lựa lời an ủi:</p>
<p>- Cuộc thế như một bàn cờ. Lúc gặp thời, con tốt cũng làm nên chuyện. Lúc thất thế, xe, pháo cũng chẳng làm nên tích sự gì. Hay là cháu cùng đi với mợ?</p>
<p>- Cháu không phải thằng hèn! – Nhân Tín hét lên. Lần đầu tiên, anh nhìn bác giáo với đôi mắt giận dữ, hỗn hào như thế.</p>
<p>Bà giáo thương con trong cơn bế tắc, lại sợ chồng bị xúc phạm. Bà nhìn con :</p>
<p>- Từ xưa tới nay bác lúc nào cũng lo cho con!</p>
<p>Và quay sang chồng:</p>
<p>- Xin bác tha cho cháu! Chuyện nhà, chuyện quân làm cho nó quẫn trí lên.</p>
<p>Bà nắm tay con hướng sang bác giáo :</p>
<p>- Con xin lỗi bác đi!</p>
<p>Nhân Tín ngồi bịch xuống, vùi đầu giữa hai cánh tay, đầu tóc rối tung lên.</p>
<p>Ông giáo ngồi đối diện. Đôi mắt hiền từ nhìn đứa cháu trực tính mà nông nổi, không biết nói làm sao cho nó hiểu ý mình. Ông lắc đầu tỏ ra bất lực.</p>
<p><strong>M</strong>ới sáng sớm đã nghe tiếng chuông reo lạ lùng hối thúc. Nhài chạy vội ra mở cổng. Một người phụ nữ dắt theo thằng bé chừng 6-7 tuổi lao thẳng vào. Cả hai mẹ con lảo đảo thất thần ngã sóng soài giữa cửa. Người đàn bà rũ rượi, quần áo nhàu nát bê bết bụi đường. Thằng bé ôm chặt lấy mẹ mà vẫn run lên vì sợ. Cả nhà dồn đến và nhận ra vợ con viên đại úy người Huế dạo nào chạy loạn vào đây tá túc.</p>
<p>Dù đã hồi tỉnh lại, cô giáo Dạ Lan vẫn chưa thoát cơn hoảng loạn. Mặt cô đờ đẫn. Đôi mắt ráo hoảnh và ngơ ngác. Đôi khi phát lên tiếng kêu hoặc rên la ú ớ. Thằng bé Bảo Thân đã dần quen với mọi người. Nó được tắm rửa sạch sẽ và cho ăn uống nhưng rồi cứ loanh quanh bên giường mẹ, hỏi gì nó cũng chỉ lắc đầu.</p>
<p>Cả nhà đều đoán ra sự có mặt của mẹ con cô ở đây vì làn sóng người di tản từ miền Trung, Tây nguyên lại đang đổ dồn về thành phố theo cơn lốc chiến sự mà người Sài Gòn cũng đang bồn chồn không biết lúc đến lượt mình sẽ chạy đi đâu? Nhìn cảnh thê thảm của mẹ con viên sỹ quan bạn của Nhân Tín lần này, không ai hình dung nổi nay mai rồi sẽ ra sao? Cả tháng nay không thấy Nhân Tín về nhà. Anh Chu bảo Nhân Tín ra vùng Một. Nghe chừng tình hình trên Tây Nguyên và ngoài miền Trung bi đát lắm. Bà giáo càng lo cho con.</p>
<p>Cô giáo Dạ Lan hoàn hồn, ghép lại sự việc :</p>
<p>- Thành phố đang yên mà sao tự nhiên ngoài ấy đánh to lắm. Họ từ Quảng Trị đánh vào. Trên rừng đánh xuống. Không còn người Mỹ nữa thì không ai cản họ lại được đâu. Quân đội bỏ chạy trước. Dân chúng nháo nhào chạy theo. Lần này còn náo loạn hơn cả hai lần trước. Đường vô Đà Nẵng người xe đặc nghẹt. Từ đèo Hải Vân đến Phú Lộc đều bị bên ấy chặn đường. Xe đổ, xe cháy ngổn ngang. Người ta bỏ đường bộ, chạy ra cửa Thuận An, cửa Tư Hiền, các cửa phá Tam Giang… để thoát theo đường biển. Mạ em nhất quyết không chịu đi, ở nhà một chắc. Vợ chồng em đều biết mạ không muốn để con cháu vướng bận vì mình nên đành chịu thôi. Vất vả lắm mới ra được cửa Thuận, mặc cho pháo bên kia bắn chặn đường. Xác người, xác xe, đồ đạc… chồng chất lên nhau. Ra đến bãi biển còn đau đớn hơn nhiều lần nữa. Người ta ào xuống lội ra. Tàu nhỏ cũng không dám vô gần bờ vì người ta đua nhau trèo lên. Bao nhiêu tàu, thuyền đắm vì cảnh ấy. Mặt biển lềnh bềnh túi xách, va li, những đầu người trồi lên hụp xuống. Vợ lạc chồng, cha lạc con, không biết sống chết thế nào, réo gọi, kêu khóc thảm thiết. May mà chồng em gặp người bạn là sỹ quan hải quân nên được kéo lên tàu, chở ra khơi rồi được chuyển lên tàu lớn. Hàng ngàn con người chen lấn, xô đẩy nhau. Không ít người lại bị rớt xuống biển. Đứng trên boong thì nắng, chịu mãi hết xiết. Ngồi trong khoang thì ngạt thở. Mà ai ở đâu cứ nguyên đó thôi chớ cũng không nhúc nhích đi đâu được. Ai không chịu xiết thì chết, chỉ còn một cách quăng xác xuống biển thôi. Em chỉ biết ôm chặt lấy con và nhắm mắt lại, cầu Trời-Phật phò trợ cho thoát nạn. Lâu lâu lại nghe tiếng súng nổ, tiếng người kêu xin. Không ai còn sức thương ai nữa. Người ta hỗn độn, không còn phân biệt quan, lính, sang, hèn, già, trẻ… Đói khát, sợ sệt, khốn khổ, chỉ còn nghĩ tới cái chết, làm con người ta hóa thú! Đám lính đủ các sắc len lỏi lùng xục lục lạo đồ đạc, lần mò khắp người ta, không trừ ra đàn bà con gái. Chúng nó cướp giật trắng trợn và làm nhiều điều đồi bại ngay trước mắt mọi người mà không ai dám bênh vực cho ai. Người nào chống cự bị nó đẩy ngay xuống biển. Em vẫn đeo chiếc dây truyền mặt ngọc mà lúc đó cũng không nghĩ tới. Một thằng thấy được, giật lấy. Nhưng vì chiếc dây truyền lớn không chịu đứt ra làm em nghẹt cổ, ú ớ tưởng chừng tắc thở. Chồng em  thấy thế liền rút súng ra. Mấy thằng lính giật súng lại, nhấc bổng anh lên, ném ngay xuống biển! Không ai dám có một lời thương xót! Em chết giấc đi. Không biết tàu lênh đênh trên biển bao lâu và đi mãi đâu. Em như cái xác không hồn theo sự dồn đẩy của người ta. Lên bờ mạnh ai nấy đi. Mẹ con em bơ vơ, trơ trọi, không biết là đâu. Hỏi ra mới biết là cảng Bạch Đằng. Em tìm về đây xin nương nhờ hai bác và các anh các chị. Trời ơi! Giá cứ ở lại ngoài quê, chưa chắc đã nên nông nỗi này. Mà lỡ có sao cũng không đến nỗi chết mất xác giữa sông giữa chợ. Trời-Đất-Qủy-Thần ơi!&#8230;</p>
<p><strong>N</strong>hân Tín trở về, da xám xạm, mặt hốc hác bơ phờ, nghiến răng ken két :</p>
<p>- Một lũ ăn hại, ngu dốt vậy làm sao không thua? Ngay từ đầu năm đã có những tin tức tình báo đưa về <em>Bộ Tổng tham mưu</em>, lưu ý một số sự việc bất thường trên vùng cao nguyên. Nhưng mấy ông tướng đã chẳng thèm lưu tâm tới mà cũng không ai chịu thua ai cả, rồi để đấy. Chỉ huyênh hoang chuyện phòng thủ Sài Gòn để vòi viện trợ! Khi Buôn Ma Thuột bị mất qúa dễ dàng mới hốt hoảng cuống cuồng lên. Tổng Thống bay ra Nha Trang hội nghị tướng lĩnh. Ông nọ nhìn ông kia để rồi ra một cái lệnh chết người bỏ trống Tây nguyên, cụm về bảo vệ vùng đồng bằng ven biển miền Trung! Cuộc rút lui bất ngờ vội vàng ấy biến thành một cuộc tháo chạy, mở đầu cho sự tan rã dây truyền không cứu nổi của quân lực <em>Việt Nam cộng hòa</em>. Hàng tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn còn nguyên vẹn xe pháo, súng ống trong tay mà đùm đề vợ con và dân chúng líu ríu chạy theo, bỗng thành đám quân ô hợp chạy thục mạng trên con đường số 7 độc đạo và hiểm trở hoang phế từ bấy lâu nay như con đường vô xứ Ba Thục ngày xưa. Đối phương thừa cơ truy đuổi, cắt cầu Sơn Hòa và chặn ở Củng Sơn, diễn ra bao thảm cảnh dày xéo lên nhau tan tác. Quân đoàn Hai coi như xóa sổ! Đối phương thừa cơ mở thêm gọng kìm phía bắc đánh thốc vào. Quân đoàn Một với những đơn vị tinh nhuệ như Sư đoàn <em>Thủy quân lục chiến</em>, Sư đoàn <em>Du</em>, Sư đoàn <em>Bộ binh</em> <em>số một</em>… mà cũng suy sụp tinh thần nhanh chóng, quan bỏ lính, lính mặc quan, mạnh ai nấy tìm đường thoát thân. Chỉ một trung tuần tháng ba, toàn bộ Tây nguyên và phía bắc Trung phần đã hoàn toàn lọt vào tay Cộng sản!</p>
<p>- Bây giờ các ông tướng tính thế nào? – Bác giáo hỏi.</p>
<p>- Họ đổ vấy cho nhau, đòi tống nhau vào quân lao. Nhưng chính là Tổng Thống ra lệnh <em>Tùy nghi di tản</em> mới nên nông nỗi ấy chứ ai? Rồi cũng chẳng ai xộ khám! Lại quay ra bàn xây dựng tuyến phòng thủ Nha Trang. Nhưng đám tàn quân bại tướng vô hồn như thế chỉ có thể bàn suông thôi chớ không làm được trò trống gì đâu!</p>
<p>- Liệu mọi sự rồi sẽ ra sao?</p>
<p>- Nhiều đứa bỏ dò lái rồi chớ đợi lúc chạy về cố thủ Sài Gòn chỉ còn ngồi chờ chết thôi sao?</p>
<p>- Chờ người Mỹ chứ?</p>
<p>- Còn trông chờ gì ở người Mỹ nữa? Họ không dại gì quay lại nữa đâu! Lẽ ra mình phải sớm nhận ra điều ấy ngay từ ngày 9 tháng 7 năm 1969 khi đơn vị đầu tiên của quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam theo kế hoạch<em> Phi Mỹ hóa</em> còn gọi là <em>Việt Nam hóa</em> cuộc chiến tranh! Giờ mình phải tự tìm con đường sống thôi! Cháu xuống Cần Thơ với người bạn làm Tư lệnh dưới miền Tây. Sài Gòn sẽ mất trước, mình có thể kéo cả lực lượng Hải quân và Không quân về đó, cố thủ một thời gian. Lúc cùng vẫn còn đường rút như vua Gia Long thuở trước.</p>
<p>Bác giáo nói để thuyết phục cháu:</p>
<p>- <em>Hóa</em> gì thì <em>hóa</em>, thực chất chỉ là <em>thay màu da những xác chết</em>. Người Việt Nam chết lót đường cho quân Mỹ chạy!</p>
<p>Nhưng nó là đứa hiếu thắng lại đang lúc cùng đường!</p>
<p>Cô giáo Dạ Lan từ đầu yên lặng ngồi nghe chuyện đàn ông, đột nhiên kéo thằng con vào lòng, bật lên thút thít :</p>
<p>- Đại tá! Chồng em đi theo Đại tá bao lâu nay. Bây giờ mẹ con em cũng xin theo Đại tá!</p>
<p>Nhìn vợ con người đồng đội, giọng anh trầm xuống, chia sẻ và chân thật :</p>
<p>- Thiếu tá Bảo Lộc thật không may! Cô và cháu cứ tạm ở đây, thu xếp xong công việc tôi sẽ cho người về đón.</p>
<p>- Đại tá đừng bỏ rơi mạ con em hi! Em không còn biết nương dựa vào ai nữa.</p>
<p>- Dù hoàn cảnh nào tôi cũng không bỏ rơi mẹ con cô đâu!</p>
<p>Nhân Tín thở dài, mím chặt môi, mặt đanh lại, không còn sức nữa để mà buồn.</p>
<p><strong>Đ</strong>ại tá Chu gặp bác giáo, vẻ mừng lo khó tả :</p>
<p>- Ông Thiệu gào tới khản cổ, kêu xin viện trợ khẩn cấp. Nếu Mỹ không tái đổ quân vào thì chí ít cũng phải tăng cường máy bay chiến đấu và pháo hạm, không loại trừ cả việc mang B52 sang nữa, mới có thể cản được bước <em>Quân giải phóng</em>.</p>
<p>- ở <em>Bộ Tổng Tham mưu</em> đã có kế hoạch gì phối hợp với việc Mỹ quay trở lại hay không?</p>
<p>- Lúc bình thường thì ông tướng nào cũng ra vẻ ta đây tài ba lắm, cãi nhau như ăn vã mắm. Chỉ có người Mỹ mới bảo được họ thôi. Bây giờ người Mỹ muốn quay trở lại thì cứ ngồi ở lầu Năm Góc mà vẽ ra kế hoạch chứ mấy ông tướng này thì đã quen với việc người ta làm hộ nhưng mình phải có quyền!</p>
<p>- Anh thấy chiến sự diễn biến thế nào?</p>
<p>- Cấp kỳ… lạ lùng, không sao hình dung nổi. Thực ra mất Buôn Ma Thuột đã như đòn trời giáng, là dấu hiệu báo trước một thảm bại rồi. Nhưng không ai nghĩ  tình hình diễn biến nhanh đến thế. Muốn đánh vào Sài Gòn, bên <em>Mặt trận</em> phải huy động hàng chục sư đoàn, hàng chục vạn quân chưa chắc đã đủ đâu. Phải mất vài tháng trời họa chăng mới kịp. Thế mà mới hơn một tháng, nhìn bản đồ chiến sự, Sài Gòn đang bị chia cắt, chung quanh đã dày đặc những đơn vị <em>Quân giải phóng</em>. Tuyến phòng thủ Sài Gòn không đủ sức cùng một lúc chịu nổi nhiều mũi tiến công đâu!</p>
<p>Ông giáo gặng mãi:</p>
<p>- Liệu người Mỹ có quay trở lại không? Hoặc là họ lại nhúng tay vào tới mức độ nào?</p>
<p>- Người Mỹ rất thực tế. Việc họ rút được chân ra khỏi bãi lầy chiến tranh Việt Nam vừa là điều cay cú cũng vừa là điều mừng thoát nợ cho chính họ. Hao tốn tiền của chưa là điều để họ phải ngãng ra. Vấn đề là họ đã nhìn ra sự sai lạc nước cờ rồi. Ông Johnson, hồi còn là Thượng nghị sỹ đã quyết liệt phản đối Tổng Thống Eisenhower lúc đó định đem quân Mỹ vào thay quân Pháp ở Đông Dương. Thế mà mười năm sau ông ta lại là người ra lệnh đưa quân đội Mỹ sang đây để sự nghiệp của ông giữa đường đứt gánh, lúc chết vẫn còn tức tưởi. Tổng Thống Nixon là con <em>diều hâu</em> nắm quyền tối thượng trong tay mà cũng đành phải muối mặt dỗ ngọt không xong thì đe dọa một thằng oắt con bướng bỉnh cứ lẵng nhẵng bám mình vòi vĩnh mãi mới trút đi được của nợ này!</p>
<p>- Nghĩa là người Mỹ một đi không trở lại?</p>
<p>- Cháu tin là như thế. Nhưng nghĩ cho cùng thì mình cũng bẽ bàng!</p>
<p>Ông giáo nhạy cảm với tâm trạng của anh.</p>
<p>Anh nhìn bác giáo, nét mặt buồn thiu:</p>
<p>- Gia đình bên vợ cháu đang chuẩn bị đi. Nghề buôn đã thành cái nghiệp gia truyền, không bỏ được!</p>
<p>- Cháu định thế nào?</p>
<p>- Cháu phân vân lắm, chưa biết tính sao!</p>
<p>Ông giáo cũng không vui :</p>
<p>- Cháu cứ suy nghĩ kỹ đi!</p>
<p>- Cháu suy nghĩ nhiều lắm. Một là cháu còn có trách nhiệm với vợ con. Hai là nghe có chuyện <em>tắm máu…</em></p>
<p>- Những ngày cuối thế chiến Hai, khi quân Mỹ từ các chiến hạm Thái Bình Dương ào ạt đổ bộ lên chiếm đảo Okinaoa, đã có hàng trăm ngàn người kể cả binh sỹ và thường dân Nhật tự sát. Một phần vì lòng tự tôn <em>võ sỹ đạo</em> và một phần sợ bị trả thù. Khi quân Đồng minh đặt chân lên kinh đô Tokyo, hàng ngàn phụ nữ tự nguyện khoả thân nằm, ngồi, đứng, đi, nhảy múa… trước Hoàng thành, khuyến dụ kẻ chiến thắng không cho xúc phạm tới Nhật hoàng. Sau này người Nhật có nhiều Mỹ lai một phần là thế.</p>
<p>- Cháu không tin nhưng cũng hồ nghi. Bên Campuchia, lính Khmer đỏ đang <em>dọn sạch</em> các thành phố, đuổi người thành thị về nông thôn lao động! Trong lúc hỗn loạn, ai biết mình chỉ vì thời thế? Ai hiểu mình lòng dạ thế nào? Ba là dù có qua được cơn biến động này nhưng sau đó liệu mình có thích hợp với thể chế mới không?</p>
<p>- Tôi hiểu anh và không dám có ý gì vào chuyện ấy!</p>
<p><strong>T</strong>rong lúc người ta đang bỏ Sài Gòn chạy đi thì anh Văn Khoa và Bích Liên lại từ Paris về Sài Gòn trước sự ngạc nhiên của mọi người. Văn Khoa cười hồn nhiên lắm:</p>
<p>- Lúc này không ai thèm kiểm soát người đến nữa. Họ quên tôi rồi!</p>
<p>- Nhưng anh về để làm gì? – Thủy Tiên ái ngại.</p>
<p>- Tôi biết lúc này Thủy Tiên bận nhiều việc lắm. Tôi muốn được ở bên để giúp đỡ Thủy Tiên!</p>
<p>Ông giáo hỏi dò:</p>
<p>- Hình như một số người đối lập, nhân dịp này về muốn tham gia vào lực lượng thứ ba?</p>
<p>- Có đấy! Có người rủ cháu nếu có thể thì tham chính!</p>
<p>- Tôi sợ muộn rồi. Coi chừng bị vạ lây!</p>
<p>- Tôi trung lập. Không đảng phái. Không chính trị. Không thích thực dân, đế quốc. ủng hộ một chính quyền của người Việt Nam độc lập và dân chủ.</p>
<p>- Anh có thái độ rõ ràng thế mà nói là không chính trị? – Thủy Tiên cười trêu.</p>
<p>Bích Liên chêm vào:</p>
<p>- Người như anh ấy không làm chính trị được đâu. Vì thế em mới bay theo về, nhân tiện đón mợ cùng sang. Em còn muốn xin cho người bạn đứa con nuôi, chứ qua bên ấy, người ta tranh giành nhau, khó lắm.</p>
<p>Anh Văn Khoa thật thà đưa ra một tờ báo Pháp đăng tin, in hình vụ tai nạn máy bay di tản cô nhi, vẻ mặt đầy cảm kích:</p>
<p>- Khủng khiếp qúa! Thật tội nghiệp những sinh mạng nhỏ nhoi rất đáng thương như thế này.</p>
<p>Thủy Tiên nghiêm sắc mặt:</p>
<p>- Lúc này, những ai cần phải đưa đi trước hết ngoài người Mỹ ra? Họ không còn có việc gì ở đây nữa. Rồi đến những ai mà thiếu người Mỹ thì họ không sống nổi cùng với những kẻ chỉ biết sống dựa vào chiến tranh thôi. Còn những đứa trẻ đáng thương ấy, xã hội nào cũng phải có trách nhiệm bảo dưỡng và nâng đỡ chúng thành người. Anh từng nghe chuyện về những con chó sói, đười ươi đã nuôi đứa trẻ bị bỏ rơi nào đó cho đến lúc những người thợ săn tình cờ bắt được giữa rừng hoang đó thôi? Con vật vô tâm còn biết động lòng huống chi nữa là con người? Người ta đang mượn trẻ con để dựng lên những chuyện thương tâm giật gân như thế hòng đánh trống lấp đi những chuyện thê thảm của người lớn đang diễn ra trước mắt. Đấy mới là những hành động bất nhân cần phải làm rõ ra và lên án!</p>
<p>Ông giáo nói rõ hơn:</p>
<p>- Anh không thấy có sự liên quan giữa lời đồn đại về <em>một cuộc tắm máu</em> với những đứa trẻ mồ côi tội nghiệp đó sao? Người ta nói như thật rằng khi cộng sản tới đây, sẽ có hàng triệu người vì bất đồng chính kiến và tín đồ các tôn giáo sẽ bị trả thù. Cho nên người Mỹ đem quân vào Việt Nam là một việc làm nhân đạo. Bây giờ, dù phải ra đi họ vẫn không quên sứ mạng cao cả ấy!</p>
<p>Sân bay Tân Sơn Nhất nườm nượp máy bay lên xuống. Khách đến chỉ lèo tèo mấy người cập rập. Khác hẳn cảnh người đi chen lấn. Vợ con người Mỹ, các gia đình viên chức đương quyền, những người máu mê chính trị và người giàu có vội vã ra đi. Kèm theo cả những chuyến máy bay <em>xuất khẩu cô nhi</em> theo kế hoạch <em>Babylift</em> do Tổng Thống Mỹ quyết định một khoản tài trợ khẩn cấp bất thường cho bốn nghìn trẻ mồ côi di tản. Không thiếu các gia đình bên phía trời Âu dang rộng cánh tay đón nhận những đứa trẻ bất hạnh này một cách vô tư vì lòng nhân đạo. Nhưng ít ai nghĩ tới đó là một đòn hiểm đánh vào những người chủ nhân sắp tới của Sài Gòn. Bây giờ chúng là nhân chứng sống dễ động lòng trắc ẩn để mọi người thấy rằng những sinh linh nhỏ bé ấy cũng phải chạy tỵ nạn một chính quyền ghê sợ sắp tràn tới đây! Sau này chúng sẽ là ai một khi quê hương và đồng bào của chúng đã thành xa lạ? Vụ tai nạn của một chiếc máy bay rớt trên đường di tản không biết vì lý do gì, làm gần ba trăm đứa trẻ tan xác càng dậy lên mối thương cảm của nhiều người hằng tâm mà lẫn lộn trắng đen, khiến lòng họ nảy nỗi bất bình trước những giờ phút kết thúc cuộc chiến đẫm máu kéo dài.</p>
<p>Văn Khoa nhìn Thủy Tiên cảm kích, thành thật nói trước mọi người:</p>
<p>- Tôi thật qúa ngây thơ!</p>
<p>Tiếng nổ long trời và cột khói đen ngùn ngụt bốc lên từ phía chợ Sài Gòn cùng tiếng rít của chiếc máy bay chiến đấu làm mọi người liên tưởng tới cảnh ngộ bi thảm đã qua của nền <em>đệ nhất cộng hòa</em>. Không lâu sau, khắp Sài Gòn đã đồn ầm lên chuyện nhân một chuyến bay không kích ra ngoài miền Trung, một phi công của không lực <em>Việt Nam cộng hòa</em> phản chiến, quay trở lại, ném bom xuống dinh Độc Lập và bay đi biệt tích! Tổn thất vật chất không đáng là bao nhưng bản thân Tổng Thống Thiệu đã nhìn ra cảnh ngộ bi đát của mình và làn sóng đòi ông ta từ chức bùng lên – chỉ trừ ra viên đại sứ Mỹ ở Sài Gòn vẫn khư khư ôm lấy! Người ta đồn hai người ấy có cùng mối thâm thù với phía bên kia, bởi một người là cha đẻ của đứa con trai bỏ mạng ở Khe Sanh hồi năm 1968 và một người sẽ mất đi cái ngai quyền lực đầy danh lợi.</p>
<p>Người mừng, người lo trước tiếng kèn tống biệt một chính quyền do Mỹ bảo trợ từ mấy chục năm nay đã vang lên ngày một rõ.</p>
<p><strong>B</strong>à giáo đã ra đi cùng con gái. Tâm trạng bà cứ rối bời bời. Bà không lo ông rơi vào cảnh bất trắc bởi bà biết việc ông làm. Suốt bao ngày đã qua, bà cứ thấp thỏm lo lắng cho chồng lỡ việc làm bị lộ ra. Nhưng bà không nỡ để ông ở lại đơn độc, không người thân thích trong một hoàn cảnh mới chưa biết hay dở thế nào. Và ông cũng thấu hiểu nỗi khó xử của bà, sẽ là vui ít buồn nhiều. Ông động viên để bà khỏi chần chờ:</p>
<p>- Bà cứ coi như một cuộc nghỉ hè đi thăm con cháu. Sau đó, nếu bà không muốn trở về thì tôi sẽ qua. Tình thế mỗi thời một khác.</p>
<p>Anh Văn Khoa đòi ở lại. Anh phân trần với Bích Liên:</p>
<p>- Lúc rời Hà Nội, tôi mới hơn mười tuổi. Đi, ở, nghĩ hay, nghĩ dở đều theo người lớn. Đây là cơ hội mà nhiều đời người không dễ gặp. Tôi muốn được làm một chứng nhân lịch sử.</p>
<p>Anh cũng nói với Thủy Tiên:</p>
<p>- Tôi muốn được nhận một việc gì giúp em!</p>
<p>Tuy nhiên cô chưa dám lộ ra công việc của mình, chỉ sang bác giáo:</p>
<p>- Nếu anh muốn làm chứng nhân thì đi theo bác giáo, sẽ biết được nhiều chuyện lắm.</p>
<p>Việc bà ra đi lúc này với ông vậy mà hay. Ông nhớ lại 29 năm về trước, ngày Hà Nội nổ súng kháng chiến chống Pháp, ông cũng thành người độc thân, lòng nhẹ nhàng, thảnh thơi, không phải lo nghĩ  cho ai và cũng không bị ai ràng buộc. Tuy nhiên lần trước tương lai còn mù mờ nhưng ông còn trẻ khoẻ. Lần này, dù đang đặt chân tới lưng  cái dốc bên kia của cuộc đời nhưng ông có thể giang tay đón ngày chiến thắng. Lòng ông khấp khởi vui mừng bởi đã trút bỏ được nỗi mặc cảm đeo đẳng bao lâu về phận sự dở dang của một người dân với nước.</p>
<p>Ông tất bật đi đó đi đây. Tiễn biệt bạn cũ, rộng lòng với những người bạn mới. Có người ướm hỏi ý ông. Ông chỉ xuống chân cười khôi hài:</p>
<p>- Ngày trước, hai lần, tôi đều trong số những người cuối cùng rời khỏi thủ đô mà vẫn ung dung. Mình có đôi hài vạn dặm.</p>
<p>Ông thật ngạc nhiên khi thấy vợ chồng ông bạn Hiệu trưởng gọn gàng túi xách lên đường :</p>
<p>- Anh cũng đi sao?</p>
<p>Ông giáo Kiến hơi ngượng ngùng lúng túng, mãi mới nói thật lòng mình:</p>
<p>- Chiến cuộc tàn rõ ràng rồi, thực bụng tôi cũng mừng cho đất nước. Nhưng dạ lại phân vân. Mình đã bỏ chính nghĩa mà đi, bây giờ quay lại, thấy lòng thế nào!</p>
<p>- Anh đã đóng góp cho kháng chiến!</p>
<p>- Trong cảnh đất nước nghiêng ngửa như vậy, người lương thiện nào cũng làm được như mình…</p>
<p>Ông buồn bã chép miệng, lắc đầu:</p>
<p>- Một bên có cảm tình nhưng ngại. Một bên không thích nhưng sống quen rồi. Mình đã già, chẳng làm gì được nữa, lại khó thích nghi. Dù sao mình cũng không hổ thẹn. Ra đi lúc này còn dễ –  Ông ngập ngừng siết tay người bạn.</p>
<p>Ông giáo Phú hiểu bạn lòng đầy tâm trạng dày vò, chỉ biết ngậm ngùi lặng lẽ chia tay nhau vội vã.</p>
<p>Trong hoàn cảnh nào ông giáo Phú cũng luôn giữ vai trung lập. Có người khen ông biết tự trọng. Có người chê ông hoạt đầu khôn khéo. Dù sao thì cả phe thân chính quyền lẫn phe đối lập đều muốn lôi kéo ông mà không được nhưng họ đều lắng nghe ý kiến của ông.</p>
<p><strong>Ô</strong>ng Mười phái ông Ba già vào ở sát bên ông giáo để nhận tin chính sự hàng ngày, hàng giờ và góp ý với ông phương cách đối phó khi cần. Ông Ba người Việt gốc Hoa, có tính sởi lởi mà thâm trầm tinh quái của người Tàu pha tính hài hước khôn ranh của người Việt, rất được trên tin tưởng. Ông giáo mượn cớ bảo Nhài và mẹ con cô giáo Dạ Lan qua ở trông nhà cho đại tá Chu đã bỏ đi xuất cảnh. Thủy Tiên và ông ít khi có mặt ở nhà. Tình thế này không ai còn lòng dạ nào nghĩ tới phận sự để mà dòm dỏ nhà nhau. Ông Ba như một ông già quê chạy loạn đến xin giúp việc, vững dạ ở nhà ông. Ông giáo tóm lược :</p>
<p>- Có kẻ lăm le muốn đảo chính nhưng còn chờ xem Mỹ có ủng hộ không vì ai cũng hiểu đảo chính mà không có bàn tay người Mỹ nhúng vào là không xong đâu, dù chính quyền này đã rệu rã lắm rồi. Nhà Trắng không thiết tha gì nữa, đang loay hoay vừa tìm cách kiềm chế bước chân <em>Quân giải phóng</em> vừa tìm một con bài mới khả dĩ có thể nói chuyện được với phía bên kia. Nhưng Thiệu là kẻ lì lợm, <em>cố đấm ăn xôi</em>.</p>
<p>Phòng tuyến Phan Rang, Phan Thiết thất thủ cùng lúc với chi khu Dầu Tiếng và thị xã An Lộc ở phía tây bắc Sài Gòn. Các lộ 13, 14, 20, 22 tiến thẳng về Sài Gòn đã bỏ ngỏ. Trong khi chính quyền Thiệu quyết tâm cố thủ lá chắn thép Xuân Lộc thì một mũi <em>Quân giải phóng</em> từ hướng đông bắc đánh bọc ra phía sau, chiếm ngã ba Dầu Dây, uy hiếp yếu khu Trảng Bom và thành phố Biên Hòa. Xuân Lộc chơ vơ ngoài vòng đai phòng thủ Sài Gòn.</p>
<p>Người Mỹ biết vai kịch giao cho kép Thiệu thủ chính từ kịch bản do họ soạn ra đã xong rồi. Quốc hội Mỹ dứt khoát không viện trợ thêm cho Sài Gòn nữa ngoài những khoản chi cho việc rút toàn bộ người Mỹ nhanh chóng ra khỏi miền Nam Việt Nam. Dù kép hát vẫn mê mải múa may trên sân khấu nhưng từ hậu trường đạo diễn Martin đã phẩy tay giận dữ gọi phải vào ngay. Cùng với điềm gở chẳng lành là có kẻ chơi xấu làm kinh động chốn an nghỉ của đấng tiền nhân thân tộc ở quê nhà, Thiệu tỉnh người nhận ra mệnh đế vương của mình đến đây chấm dứt. Đã đến lúc nhả ra cái ngai Tổng Thống <em>quyền rơm vạ đá</em> lúc này.  Y cho quân chạy khỏi Xuân Lộc về giữ khu kho Long Bình và con lộ 51, lấy đường thoát ra biển cả theo ngả Vũng Tàu. Mất Xuân Lộc, Sài Gòn sẽ mất!</p>
<p>Từ cuộc họp ở toà nhà quốc hội trở về, ông giáo đưa ra một xấp tài liệu cho ông Ba già:</p>
<p>- Không chỉ lưỡng viện mà cả tòa Đại sứ Mỹ đều bị bất ngờ! Thằng này gian hùng, mưu mẹo không thua gì Tào Tháo. Nó lấy cớ hợp hiến, giao lại quyền cho một lão phó già vô tướng bất tài thì làm sao có thể xoay chuyển được tình thế trong lúc lửa bỏng dầu sôi thế này? Nó không ăn được thì đạp đổ! Nó vừa chửi thằng thầy vừa hù dọa lão già kế nhiệm: <em>Nếu tôi không nói rằng các ông đã bị cộng sản Việt Nam đánh bại thì tôi cũng xin thưa rằng các ông cũng không thắng được họ. Nhưng các ông đã tìm được một lối tháo lui trong danh dự…</em> <em>Các ông bỏ chạy để mặc chúng tôi làm cái việc mà các ông làm không xong. Chúng tôi không có gì hết thế mà các ông lại muốn chúng tôi hoàn thành cái điều mà các ông không hoàn thành nổi</em>! <em>Các ông bắt chúng tôi làm một việc như lấp biển Đông. Các ông là một đồng minh vô nhân đạo với những hành động vô nhân đạo</em>!</p>
<p>Thủy Tiên cười rúc rích nói chêm vào:</p>
<p>- Anh Văn Khoa vậy mà tiến bộ nhanh lắm. Giữa đông đảo bạn bè, anh ấy đọc to khúc này lên và chế thêm vào: Vậy thì người khoẻ mạnh, tài ba như ông mà lại bỏ cuộc giữa chừng thì làm sao một ông già gần đất xa trời, tài cán chỉ bằng một tên thượng sỹ, có thể gánh nổi trọng trách quốc gia lúc này? Ông đúng là một tên phá đám!&#8230; Mọi người vỗ tay hưởng ứng ầm lên.</p>
<p>Ông Ba già bảo:</p>
<p>- Thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước tới rồi. Không sức mạnh nào ngăn nổi nữa. Tin từ phái đoàn ta đang ở sân bay Tân Sơn Nhất báo ra, một viên sỹ quan trong phái đoàn Mỹ bắn tin với Hà Nội rằng: Mỹ chịu thua rồi! Các ông đừng tấn công vào Sài Gòn làm nhục người Mỹ nữa!</p>
<p>- Sài Gòn đang vận động thành lập một chính phủ mở rộng để nói chuyện hòa giải với bên kia. Người ta nhắm có cả tôi trong đó? – Ông giáo hỏi ý ông Ba.</p>
<p>- Một ông bạn Pháp cũng muốn tiến cử anh Văn Khoa có chân trong đấy ? – Thủy Tiên cũng hỏi.</p>
<p>- Đừng dại gì đứng vào hàng ngũ của kẻ bại trận ! – Ông Ba xua tay.</p>
<p>- Nếu như có một chính phủ như thế? Người ta đang định cử một phái đoàn ra Hà Nội, nếu không được thì vào sân bay thương thuyết với đàng mình? – Ông giáo hỏi thêm.</p>
<p>- Vô ích! Lúc này, không ai có đủ quyền đại diện cho nhân dân miền Nam ngoài <em>Chính phủ cách mạng lâm thời</em> ra!</p>
<p>- Nhưng có cần thêm sự đổ máu khi ta có khả năng hạn chế? Nghe nói ở Xuân Lộc – Long Khánh, nó cho thả hai quả bom khủng khiếp từ trước tới nay chưa từng dùng ở chiến trường miền Nam, gọi là <em>bom ngạt sinh hóa</em> hay là <em>bom phát quang</em> <em>CBU-55 </em>có khả năng phân hủy oxy trong phạm vi đường kính một kilômét! Nhờ một số sỹ quan trí thức Phật giáo thiện tâm cung cấp chứng cớ, nhóm <em>dân biểu đối lập</em> đã kịp thời phát tán văn bản tố cáo trước công luận thứ vũ khí hủy diệt mới này. Tuy nhiên thật khó lường hết dã tâm của kẻ cùng đường – Ông giáo phân vân.</p>
<p>- Ta chưa biết tác hại cụ thể về thứ vũ khí nguy hiểm mới này. Nhưng nhà Trắng và lầu Năm Góc đã giở hết bài rồi mới chịu xuôi tay bỏ cuộc thì tất cả đếu là qúa muộn. Lũ sát nhân vong bản theo đóm ăn tàn này dù có hung hăng nhưng cũng không thể nào cản được bước ta đi. Người cách mạng phải biết qúy trọng từng giọt máu của chiến sỹ và đồng bào mình. Nhưng chúng ta cũng không có quyền từ chối một thắng lợi toàn diện khi đã nắm chắc thời cơ chiến thắng trong tay!</p>
<p>- Thời cơ đó là gì?</p>
<p>- Là Mỹ hoàn toàn không có khả năng quay lại miền Nam nữa! Là khí thế tiến công của toàn quân và dân ta đang dâng lên như nước vỡ bờ! Là tinh thần sỹ quan binh lính địch đang trong trạng thái hoàn toàn tan rã! Là sự sụp đổ của ngụy quyền các cấp từ trên xuống dưới như trong thế trận liên hoàn <em>đôminô</em>… Tình hình chiến sự đang diễn biến cực kỳ có lợi cho ta. Thời cơ do ta tích lũy và tạo thế từ bao lâu nay đã đến và chỉ có một dịp này. Người cách mạng chân chính phải chấp nhận một sự hy sinh cần thiết cho sự thắng lợi trọn vẹn của sự nghiệp chung.</p>
<p>Từ miền Trung cho tới đồng bằng Nam Bộ, mỗi ngày hừng hực vang lên lời tuyên bố của <em>ủy ban cách mạng</em> các tỉnh tiếp nhau thông báo với đồng bào cả nước chính quyền nơi ấy đã hoàn toàn nằm trong tay những người yêu nước, phát đi lời kêu gọi khoan hồng với những người vì hoàn cảnh cá chậu chim lồng mà phải làm việc hoặc đi lính tay sai cho ngoại bang, nay thực tâm hối cải quay về với tổ quốc và nhân dân.</p>
<p>Tin Thiệu cùng viên Thủ tướng của y trốn chạy sang Đài Loan càng củng cố niềm tin mà ông Ba già đã nói ra. Sỹ quan, binh lính Sài Gòn công khai chửi khắp mọi nơi:</p>
<p>- Hắn là thằng nắm nhiều quyền và hưởng nhiều lợi nhất, từng nỏ mồm tuyên bố: <em>Nếu Mỹ không tiếp tục chiến đấu ở đây thì chúng tôi chiến đấu một mình cho đến khi hết phương tiện rồi chúng tôi chết</em>! Bây giờ máy bay, xe pháo, súng đạn… vẫn còn đầy nhưng những thằng trùm đều theo nhau cao chạy xa bay hết ráo!</p>
<p>Ông giáo thông tin:</p>
<p>- Phóng viên hãng AFP mới di tản khẩn cấp bằng trực thăng Mỹ về cho biết quân Khmer đỏ đã tràn ngập Phnompenh và tàn sát không thương tiếc những ai liên quan tới chính quyền cũ. Cựu thủ tướng Sirik Matak không chịu di tản theo lời mời của Mỹ. Hắn đã từng học ở Sài Gòn nhiều năm và có không ít bạn bè ở đây mà cũng trong đám đầu sỏ tàn sát kiều bào mình bên đó. Nhưng nói thật vô tư, cũng là kẻ lừa thầy phản bạn nhưng y còn biết giữ chút liêm sỷ cuối cùng hơn các vị nguyên thủ cái quốc gia <em>Việt Nam cộng hòa</em> này!</p>
<p>Ông đưa ra mảnh giấy phôtô bức thư của Sirik Matak gửi cho viên đại sứ Mỹ ở Phnompênh vào giờ phút chót:</p>
<p>… <em>Tôi hết sức thành thật cảm ơn ông về đề nghị đưa tôi đến tự do. Tôi không bao giờ tin rằng vào lúc này, ông cũng như đất nước vĩ đại của ông lại có cái cảm nghĩ rằng mình đã bỏ rơi một dân tộc đã chọn tự do</em>!<em> Chúng tôi cần sự bảo vệ của các ông nhưng các ông đã từ chối</em>!<em> Chúng tôi không thể làm gì trước tình thế này</em>!<em> Rất tiếc thay, tôi không thể rời nơi đây một cách hèn nhát. Nhưng hãy khắc ghi rằng nếu tôi chết ngay ở nơi này, tại đất nước mà tôi yêu dấu thì cũng chẳng thành vấn đề vì rằng tất cả chúng ta sinh ra đều tử biệt. Tôi chỉ mắc mỗi sai lầm là đã tin các ông</em>!<em> </em></p>
<p>Ông Ba kết luận:</p>
<p>- Đấy là bài học cay đắng thảm thương cho những kẻ đặt lợi ích cá nhân lên trên quyền lợi của quốc gia, dân tộc. Khi nhận ra đã lỡ <em>gửi trứng cho ác</em> rồi thì dù sống hay chết đều bị bia miệng liệt vào hàng phản dân hại nước – bất nghĩa bất trung!</p>
<p>Ông nhìn mọi người vẻ đầy tự tin, đặt ra câu hỏi:</p>
<p>- Trong tình thế này,  còn quan lính nào có tinh thần chiến đấu nữa chăng?!</p>
<p><strong> </strong><strong>ô</strong><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>C</strong>uối con đường mòn Hồ Chí Minh, cũng có một địa danh gọi là <em>Ngã ba biên giới</em> nhưng thực ra chỉ là đường ranh qui ước giữa Nam Tây Nguyên với Cam pu chia và Đông Nam Bộ. Ngọn núi Gun Lak và Nâm Nung như vị thần thiêng của bộ tộc M’Nông sống lâu đời ở đó. Nơi ấy cũng là nguồn của những con suối chảy đi nhiều ngả. Đất cũng như người, không có nước thì không sống được. Người già M’Nông kể rằng, từ thuở khai thiên lập địa, Giàng Jut dựng trụ đo trời, trụ cao qúa, phải có những giây giằng, nhưng cũng không chống nổi. Trụ gãy, còn lại chân là núi cao, ngửa mỏi cổ vẫn chưa nhìn thấy đỉnh. Giây giằng rớt xuống thành những con suối như Dak Hut, Dak Dam, Dak Nông, Dak Tík, Dak Lung, Dak Mil, Dak R’Lấp… đổ về sông Sêrêpok chảy qua Biển Hồ và sông Bé, sông Đồng Nai chảy ra biển Đông. Ông tổ M’Nông có nhiều vợ. Sau khi ông chết, mỗi bà dắt con ra ở riêng, thành các thị tộc người M’Nông Pré, M’Nông Noong, M’Nông Roong, M’Nông Sêtô, M’Nông Prưn, M’Nông Bih, M’Nông Ching, M’Nông Êgar… đều quần tụ quanh những dòng suối đó. Núi Nâm Nung bốn mùa mây phủ như sương. Dưới chân núi, nhiều dấu tích của tổ tiên người M’Nông còn để lại. Như suối Dak Vi, nước lúc nào cũng đục trắng, vì vợ con ông tổ tới đây vo gạo (Trước đây nghĩ rằng suối chảy qua địa tầng đất sét trắng. Sau phát hiện vùng này là mỏ bauxit khổng lồ). Lưng núi, một mảng đất truồi trơ màu đỏ sậm, là nương rãy của cụ tổ ngày xưa. Một trảng thông vốn là nương trồng cây thuốc. Đặc biệt một cây đa cổ thụ, tán lá xum xuê với những rễ cây tủa xuống, đêm ngày râm ran tiếng chim kêu vượn hú, là nơi bà tổ ngày ngày ngồi đấy ru con.</p>
<p>Những thứ thiết yếu cho đời sống đều được coi như những vật linh thiêng gọi là giàng: <em>giàng paơ</em> (lúa), <em>giàng dak</em> (nước), <em>giàng un</em> (lửa), <em>giàng pri</em> (rừng). Mùa khô, ra rừng phát rẫy bỏ hạt để đó. Về nhà nằm mơ thấy được ngủ với gái là tốt, thấy nước lũ về là xấu lắm. Đất rừng mênh mông nhưng các buôn tự giới hạn cho mình, không bao giờ có sự buôn này xâm phạm đất rừng của buôn kia.</p>
<p>Người M’Nông rất kín chuyện. Không thích ai thì không tiếp. Một cành cây treo ngược trước cửa là không muốn cho khách lạ bước vào nhà. Những ngày kiêng kỵ, không tiếp xúc với người ngoài. Tuy nhiên rất có bụng thương người. Khách từ phương xa tới, không biết tục lệ địa phương, đến hỏi xin thứ gì, người ta quăng ra thứ đó và bỏ đi. Người có nhu cầu biết ý cứ việc nhận lấy. Muốn hỏi điều gì, người ta quay mặt đi mà trả lời, kèm theo câu nói bâng quơ: <em>Ta nói cho cái cây của rừng, con nai của núi , con chim của giàng nghe thôi</em>… Nhưng người nghe được giải đáp về điều mình cần biết.</p>
<p>Vậy mà bây giờ, giữa nơi thâm sơn cùng cốc ấy, bộ đội sao mà đông thế? Chúng nó giăng võng, ăn ngủ ngoài rừng, lúc con gà mới hát đã nghe chúng nó gọi nhau ríu rít như chim. Khi vào nhà, chủ, khách nói bằng miệng thì ít, nói bằng tay bằng mắt thì nhiều, cười đến chảy nước mắt ra. Chỉ có một <em>kôn bu ur</em> (đứa con gái) mà sao mặt nó buồn như lúc trời sắp tối. Mấy chị, mấy mẹ thương lắm, kêu nó vào nhà cho ngủ, hỏi:</p>
<p>- <em>Bạ mày hằn</em>? (mày đi đâu?)</p>
<p>Nhưng nó không biết tiếng mình, hỏi gì cũng lắc đầu, có khi nó khóc. <em>Kôn bu klô</em> (đứa con trai) bảo:</p>
<p>-<em> Ur han rôkh sai</em>! (vợ đi tìm chồng).</p>
<p>Mọi người lại càng thương.</p>
<p>Bộ đội cũng ít biết về cô gái. Chỉ biết cô ta người Hà Nội, có chồng vào Nam chiến đấu và bặt tin sau một thời gian. Cô xung phong vào đoàn cán bộ y tế đi B để tìm chồng. Mới tới binh trạm đầu của tuyến phía nam, cô bị ngã sái chân, phải vào nằm viện cả tháng trời. Bác sỹ bảo cô không có khả năng hành quân đường trường và cấp giấy chứng nhận cho cô trở lại hậu phương. Thời gian nằm trong bệnh viện và chờ đợi ở trạm thu dung cho cô vỡ ra chỉ có ở những nơi đó mới dễ dò ra dấu vết của chồng. Tình cờ gặp một giao liên, xem địa chỉ hòm thư, anh ta buồn bã bảo:</p>
<p>- Đây là đơn vị của tôi! Gần như bị xóa sổ rồi! Tôi chính là người khiêng cậu Nhân Trí ra khỏi trận địa và đưa vào viện quân y. Cậu ấy chỉ bị sức ép bom thôi. Nhưng bây giờ nhập vào đơn vị nào, đi ra hay đi vào cũng không biết nữa!</p>
<p>Yên Thịnh càng quyết tâm đi theo bộ đội ra mặt trận tìm chồng. Cô quyết định gặp đơn vị bộ đội nào đi vào phía nam là cô bám theo. Với tờ giấy thông hành đi vào <em>Ông Cụ</em> và tờ giấy chứng thương, cô thật tình trình bày cảnh ngộ của mình:</p>
<p>- Chúng em mới cưới nhau chưa được bao lâu thì anh ấy và đứa em trai ruột của em được gọi đi B. Hai anh em ở chung đơn vị. Thời gian đầu anh ấy gửi thư về nhà đều lắm. Nhưng rồi bặt tin luôn. Sau đó gia đính nhận được giấy báo tử của đứa em! Bây giờ em không biết anh ấy còn sống hay đã chết. Về nhà thui thủi một mình trong tâm trạng hy vọng thì ít, tuyệt vọng thì nhiều, em không sống nổi. Chi bằng cứ đi ra phía trước, không làm được việc lớn thì làm việc nhỏ và còn hy vọng. Lỡ có chết giữa nơi bom đạn hay nơi rừng sâu suối dữ em cũng cam lòng.                                                   Để một người lạ nhập vào đội ngũ hành quân không dễ. Nhưng trước cảnh ấy, bộ đội dễ mủi lòng, cứ dấu ém chuyện đi ở các cấp tiểu đội, trung đội hay là đại đội. Cấp trên lỡ có biết thì cứ nói như một khách đi đường giao liên tình cờ cho theo qúa giang một chặng đường. Tuy nhiên làm sao có được sự đồng nhất ở mọi người, cô phải sống trong tâm trạng phập phồng lo lắng. Không ít lần cô phải nhập vào đoàn khác hoặc vì đơn vị nọ hành quân rẽ ngang đường.</p>
<p>Anh lính tân binh Ngô Văn Xuân bỏ dở chương trình đại học, gia nhập đoàn quân giải phóng thẳng tiến vào Nam. Trong anh còn nguyên âm hưởng từ trong giảng đường những câu chuyện tình đã thành cổ tích hạnh phúc hoặc bi thương. Anh có những bài thơ vừa đi đường vừa sáng tác với bút danh Tầm Xuân. Đồng đội chê cái tên yếu như con gái nhưng anh giải thích:</p>
<p>- Hoa thường đồng nghĩa với mùa xuân. Người ta dễ lầm tưởng có hoa là mùa xuân đến với mình. Duy chỉ một thứ hoa đồng nội ấy nhắc con nhà nông chúng tôi mùa xuân mãi phải đi tìm.</p>
<p>Nhân chuyện này, anh rung cảm làm bài thơ <strong><em>Giữa Trường Sơn tìm chồng</em></strong>:</p>
<p><em>Trường sơn bão bom bão lửa</em></p>
<p><em>Núi cao xơ xác cây rừng</em></p>
<p><em>Bơ vơ một người thiếu phụ</em></p>
<p><em>Gót mòn rướm máu dặm dài</em></p>
<p><em>Ngẩn ngơ nhìn đoàn quân bước</em></p>
<p><em>Thẫn thờ mắt lệ tìm ai ?</em></p>
<p><em>Chồng em ra đi từ đó</em></p>
<p><em>Mỏi mòn trông một cánh thư !</em></p>
<p><em>Bằn bặt năm chờ tháng đợi</em></p>
<p><em>Sao anh đi mãi không về ?</em></p>
<p><em>Em tin rằng anh không chết</em></p>
<p><em>Vì em một dạ đợi chờ !</em></p>
<p><em>Em tin anh không hàng giặc</em></p>
<p><em>Bởi anh không biết sống hèn !</em></p>
<p><em>Em tin anh không đào tẩu</em></p>
<p><em>Bởi anh không chịu nhục đâu !</em></p>
<p><em>Em tin anh đang chiến đấu </em></p>
<p><em>Không rời đồng đội tuyến đầu !</em></p>
<p><em>Suốt đời anh vẫn yêu em </em></p>
<p><em>Sẽ về khi tan bóng giặc </em></p>
<p><em>Vợ chồng em mãi gần nhau !</em></p>
<p><em>Các anh cho em cùng bước </em></p>
<p><em>Thẳng ra phía trước tuyến đầu… </em></p>
<p><em>Gặp chồng em tặng nụ hôn</em></p>
<p><em>Lau sạch mồ hôi khói súng</em></p>
<p><em>Vá lành chiếc áo tả tơi</em></p>
<p><em>Chăm từng nắm cơm hạt muối</em></p>
<p><em>Em vui sống chết cùng chồng !</em></p>
<p><em>Nàng Mạnh Khương xưa tìm chồng</em></p>
<p><em>Bơ vơ Vạn lý trường thành</em></p>
<p><em>áo bông chàng ơi… chống rét </em></p>
<p><em>Cho lòng thiếp đỡ tái tê… </em></p>
<p><em>Thương phận mò kim đáy bể</em></p>
<p><em>Thôi đành thân gửi vực sâu !</em></p>
<p>Minh trinh thiên thu phiến thạch</p>
<p><em>Hóa người thiếu phụ hôm nay</em></p>
<p><em>Lặn lội Trường Sơn tìm chồng</em></p>
<p><em>Chung lưng đánh giặc giữ  nước</em></p>
<p><em>Tới ngày thống nhất non sông.</em></p>
<p><em>Cây trời che em mưa nắng </em></p>
<p><em>Đá mềm nâng gót chân em</em></p>
<p><em>Tay</em><em> trong tay nhau nắm chặt</em></p>
<p><em>Cùng em ca khúc quân hành</em></p>
<p>Bài thơ là một đề tài bàn tán rôm rả trên đường hành quân. Có người bảo là thơ binh vận. Nhưng không ai nỡ bỏ rơi người thiếu phụ đáng thương ấy nữa.</p>
<p>Đơn vị bộ binh tạm ngừng ở buôn đây, học tập phối thuộc với binh chủng xe tăng thiết giáp hành tiến đánh vào thành phố. Đơn vị cảm thấy không kham nổi người bạn đường đặc biệt nữa vì phải lệ thuộc vào đơn vị khác và kỷ luật của họ chắc chắn là chặt chẽ. Nhưng cô gái tỏ ra quyết tâm mạnh mẽ:</p>
<p>- Các anh đã giúp em thì giúp cho chót đi! Em có cách để không ai phát hiện ra được đâu.</p>
<p>Cô ghé vào tai anh Tiểu đội trưởng thì thầm. Anh ta nhảy dựng lên vỗ tay hưởng ứng:</p>
<p>- Em gái thông minh qúa! Tuyệt vời!</p>
<p>Ngay chiều hôm ấy, Yên Thịnh ngồi trên tảng đá bên bờ suối vắng, có người cảnh giới hai đầu, để cho anh Tiểu đội trưởng khéo tay tỉa đi bộ tóc. Tay kéo anh như thợ mà run rẩy ngập ngừng:</p>
<p>- Bộ tóc con gái đen dày đẹp quá thế này!</p>
<p>- Em chẳng tiếc đâu! Để nó làm gì? Anh cứ tỉa đi!</p>
<p>Tiểu đội trưởng cắt xong bộ tóc mà mồ hôi chảy ròng ròng.</p>
<p>Khi đội mũ xùm xụp với bộ quần áo nam giới dù rộng thùng thình, túi cứu thương lẵng nhẵng bên hông và cái ba lô chùm kín sau lưng, nếu không để ý cũng khó mà phát hiện ra đó là cô gái.</p>
<p>Đơn vị tiến công ở đội hình <em>thê đội hai</em>. Mỗi tiểu đội bộ binh ngồi trên một chiếc Môlôtôva chở kèm khí tài chiến đấu, bám theo xe tăng đi phía trước. Đường rộng, xe hành quân cấp tốc theo đà chiến dịch. Lúc đầu thấy sướng. Nhưng sau sóc lộn ruột lên, lính bộ binh hiểu ra hành quân bằng đôi chân mới thật là sướng vì chẳng phụ thuộc vào ai. Khi dừng lại nơi tạm nghỉ, cô gái nhanh chân chạy về chỗ đội hình bộ binh để khỏi bị lộ ra mình. Khi có lệnh hành quân, cô nhảy vội lên xe ngồi xen vào giữa, vừa đỡ xóc và kín đáo. Cứ thế, cô theo bộ đội đặt chân tới cửa ngõ Sài Gòn.</p>
<p><strong>N</strong>gày 26 tháng Tư, đơn vị được phổ biến lệnh trên cho mở màn <strong><em>Chiến dịch Hồ Chí Minh</em></strong>, quyết tâm giải phóng miền Nam trong thời gian ngắn nhất. Bộ binh được lệnh tản xuống, bám sát xe tăng. Mỗi tiểu đội ngồi bám chặt hai bên thành xe để khi cần triển khai chiến đấu kịp thời. Lính bộ binh như bị hành rã người ra, chỉ muốn nhảy xuống khỏi xe thôi. Tiểu đội trưởng Thành lúng túng không biết giải quyết trường hợp cụ thể này ra sao. Cô gái biểu lộ quyết tâm :</p>
<p>- Xin các anh cho em được làm người lính cùng sống chết để giải phóng Sài Gòn. Nếu còn sống, nhất định em sẽ tìm được chồng em. Nếu phải chết, em cũng cam lòng làm một người chiến sỹ vô danh!</p>
<p>Lúc này không thể để cô lại giữa một vùng giải phóng lướt qua hỗn độn địch nhiều, ta ít thế này. Tiểu đội trưởng suy tính làm sao thuyết phục được mấy anh lính xe tăng cho cô ngồi vào thùng xe.</p>
<p>Mỗi xe tăng biên chế năm người: một lái chính, một phụ lái, một thợ sửa xe, một xạ thủ và một tiếp đạn. Cố gắng ém thêm một người nữa vào cũng được, nhưng vấn đề là sức phụ nữ có chịu được không.</p>
<p>Đơn vị nhận lệnh đánh vào yếu khu Trảng Bom. Trung đội trưởng xe tăng đến từng xe nhắc nhở bộ binh cùng phối hợp nhịp nhàng. Thấy một anh lính nhỏ bé cứ lúng túng trèo lên trượt xuống dù có đồng đội kéo lên. Nhân Trí vừa tới đó, tay phụ đẩy đít anh lính bộ binh yếu ớt ấy lên vừa thét thật to trong tiếng động cơ xe nổ ầm ầm:</p>
<p>- Lính gì mà õng ẹo như con gái!</p>
<p>Cả thân hình người lính ấy ngã vật ra khiến anh phải nhanh tay đỡ lấy. Chiếc mũ <em>tai bèo</em> rơi xuống đất, lộ rõ ra khuôn mặt. Anh ta thất thần thõng tay xuống nhưng rồi lại kịp ôm chặt tấm thân ấy vào lòng, lay mạnh, hét lên:</p>
<p>- Yên Thịnh! Yên Thịnh! Sao em lại ở đây?</p>
<p>Cô gái run rẩy trong tay anh, chưa nói được gì. Anh Tiểu đội trưởng bộ binh nhanh trí nhảy xuống, nhấc bổng cô gái lên giao cho mấy đồng đội ngồi trên xe, và thét vào tai anh trung đội trưởng xe tăng:</p>
<p>- Đừng để lộ ra mà hỏng việc… Cô ấy đi tìm chồng!</p>
<p>Nhân Trí kịp hiểu ra, vội nhảy theo lên, bế người con gái ấn vào thùng xe, nói vọng vào:</p>
<p>- Đây là vợ tôi!</p>
<p>Anh quay sang nói với các chiến sỹ bộ binh, giọng nhỏ hơn :</p>
<p>- Cảm ơn các đồng chí! Tôi không biết là chuyện thật hay mơ nữa?</p>
<p>Những đồng đội trong xe hiểu ra chuyện đều lặng lẽ đồng tình với trung đội trưởng của mình. Nhân Trí chạy về vị trí chiến đấu, vẫy tay thét lớn:</p>
<p>- Tiến!</p>
<p>Yên Thịnh trong tư thế nửa ngồi nửa nằm, mơ màng không tin vào chuyện xảy ra.  Trong cái xóc lộn và hơi nóng hầm hập lẫn với tiếng đạn réo, người hét mà dường như thân xác, tâm trí không là của cô nữa. Nước mắt cô đầm đìa làm cho những người lính trong cảnh sắt lửa này cắn chặt răng im lặng.</p>
<p>Yên Thịnh dần tỉnh lại, cô nghe tiếng anh trưởng xe hét thật to lên:</p>
<p>- Đây là thị trấn Hố Nai. Dân hay địch mà đông thế?</p>
<p>Xe rú ga thật lớn mà vẫn đứng yên tại chỗ. Cô ngồi lên, nghển cồ nhìn theo người lái. Phía ngoài người ta đông lắm đứng cản mũi xe. Đàn ông, đàn bà, người già, trẻ con, lẫn vào số mặc áo lính, đầu trần, tay chỉ trỏ la hét những gì dáng vẻ hung hăng lắm. Tiểu đội trưởng Thành chen tới trước mũi xe, nói những gì nhưng đám đông càng lấn tới xô đẩy khiến anh ngã dúi dụi. Anh giơ cao khẩu súng AK lên bắn chỉ thiên. Trong khói súng, Yên Thịnh thấy anh Thành ôm ngực ngã ngửa ra, chiếc áo đẫm máu. Cô gào lên và gục xuống! Tiếng quát tháo của những chiến sỹ trong xe, tiếng người ta náo loạn ngoài kia, tiếng rú ga khủng khiếp mà chiếc xe không chuyển động càng rung mạnh lên, lay thức cô tỉnh lại. Cô nghe rõ tiếng ai đó gào lên ngay trên tháp xe, vừa kêu gọi, răn đe, vừa ra mệnh lệnh:</p>
<p>- Đồng bào chú ý! <em>Quân giải phóng</em> chỉ đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược và bọn tay sai phản dân hại nước. Ai cản đường <em>Quân giải phóng</em> là chống lại tổ quốc và nhân dân, sẽ bị trừng trị. Các đồng chí! Hãy phân biệt rõ địch ta. Quyết không để bị cản bước tiến quân về giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước!</p>
<p>Những chiếc xe tăng như thoát ra khỏi cơn giao động, rọi đèn thật sáng và rú ga thật lớn cùng nhích dần tiến lên, đồng thời những nòng súng đại liên, đại bác hạ tầm bắn thị uy. Đám đông chạy tán loạn, tiếng la khóc chìm trong tiếng súng. Bộ binh tản khai, trừng trị thẳng thừng những kẻ ngoan cố cản bước đường tiến quân. Đám người nháo nhào chạy lẩn đi khắp chốn. Những tiếng ồn lắng xuống, tan đi nhanh chóng. Vất vả lắm các chiến sỹ bộ binh mới theo kịp xe tiến lên.</p>
<p>Khi đoàn xe vượt qua dãy phố xá thì tản ra, dừng lại. Vẻ mặt mỗi cán bộ chiến sỹ đều tỏ ra căng thẳng. Họ đau đớn đi gom xác đồng đội đã hy sinh trong thế tiến công mà sức đề kháng của kẻ địch đã tan rã hoàn toàn. Đây là lần đầu tiên trong cuộc đời chiến đấu những người lính dù từng trải và dày dạn mới trải qua. Họ đóng dã chiến bên ngoài thị trấn. Không ai muốn ăn mặc dù trong bụng rỗng không. Họ chỉ khát nước thôi. Nhưng trong tình cảnh này nước lã trong chum vại và giếng nước nhà dân cũng không ai dám uống.</p>
<p>Khi bộ phận thu gom thương binh, tử sỹ mang xác Tiểu đội trưởng Thành đi, Yên Thịnh thẫn thờ không muốn rời ra. Anh là người quyết tâm bảo vệ, che chở cho cô được đi theo đơn vị đến hôm nay. Nhân Trí cũng không biết nói gì để an ủi vợ. Chính trị viên tiểu đoàn và một cán bộ địa phương đến từng xe an ủi, động viên chiến sỹ:</p>
<p>- Đây là nơi tập trung những người công giáo phía Bắc di cư. Họ bị xuyên tạc về bộ đội giải phóng, đã trở thành căn cứ an toàn của địch từ bấy lâu nay. Các đồng chí phải bình tĩnh và kiên nhẫn. Không được vi phạm chính sách dân vận và tuyệt đối không được manh động. Chỉ có thời gian mới giúp đồng bào nhận ra sự thật.</p>
<p>Sửng sốt nhận ra có một chiến sỹ gái trong đơn vị, anh hỏi lớn:</p>
<p>- Tiểu đội trưởng đâu?</p>
<p>Bộ đội đứng yên nhìn nhau. Cô gái bước tới đứng trước người chỉ huy:</p>
<p>- Báo cáo!&#8230; Anh Thành hy sinh rồi ạ!</p>
<p>Hai tay cô bưng mặt, nghẹn ngào :</p>
<p>- Có gì xin thủ trưởng cứ kỷ luật em đi! Em không làm gì cản trở công việc của các anh đâu!</p>
<p>Người cán bộ chỉ huy càng ngạc nhiên, nhìn sang trung đội trưởng tăng:</p>
<p>- Đồng chí có biết chuyện này không?</p>
<p>- Báo cáo… có biết! Nhưng là mãi sau lúc đơn vị đã triển khai đội hình chiến đấu! Không ngờ…</p>
<p>Chính trị viên càng ngạc nhiên hơn nữa khi nhà thơ Tầm Xuân lên tiếng:</p>
<p>- <em>Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân</em> đấy, thủ trưởng ơi! Chúng tôi xin bảo lãnh cô ấy. Đảm bảo sẽ không ảnh hưởng gì tới sự hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị đâu!</p>
<p>Vừa lúc có liên lạc chạy tới nói gì với chính trị viên. Trước khi bước vội đi, anh còn gay gắt :</p>
<p>- Lệnh <em>Tổng công kích</em> toàn chiến dịch. Không được chậm trễ. Vi phạm kỷ luật chiến trường là coi chừng phải ra trước <em>Tòa án binh mặt trận</em> đấy!</p>
<p>Tuyến phòng thủ Hố Nai đã bị đập tan, tuy nhiên đám tàn quân địch còn lẩn trốn trà trộn trong dân, lẻ tẻ đánh trộm cũng gây thiệt hại nhưng không thể làm bộ đội ngừng bước tiến. Đơn vị nhận được lệnh khẩn trương phối hợp tiến công toàn chiến dịch, để lại cho đơn vị sau và địa phương giải quyết chiến trường.</p>
<p>Bộ đội trong đội hình hành tiến.</p>
<p>Chiến sự diễn ra giằng co quyết liệt ở ngã ba Tam Hiệp và đơn vị mau chóng vượt qua thị xã Biên Hòa. Hai chiếc xe tăng M41 của địch bị bắn cháy nằm cản giữa đường, trung đội của Nhân Trí được lệnh ủi gạt chúng sang một bên để lấy đường tiến quân. Lúc này, trên lộ Một nườm nượp xe của các mũi hội quân dồn về, vừa vui náo nức vừa hồi hộp. Hình ảnh các đồng đội hy sinh vừa qua thoáng hiện ra. ở tuyến phòng thủ vành đai mà địch đã phản ứng dữ dội, liệu vào tận sào huyệt phản ứng của chúng sẽ thế nào? Hiểu được tâm trạng của bộ đội, Chính trị viên tiểu đoàn xuống từng trung đội động viên:                                                                                                                  &#8211; Quân Mỹ đã rút chạy. Quân ngụy hoang mang cực độ và tan rã nhanh chóng. Giờ chiến thắng đã đến gần. Các gọng kìm đã xiết chặt và sẽ bóp nát hang ổ cuối cùng của địch. Các đồng chí! Vì thắng lợi cuối cùng, chúng ta sẵn sàng hy sinh tất cả! Không sức mạnh nào cản được bước tiến của đại quân ta.</p>
<p><strong>Ô</strong>ng Ba già nói với ông giáo Phú:</p>
<p>- Thật kỳ lạ! Cũng khoảng thời gian như thế, đã kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ vẻ vang! Lời Bác dạy thật là ứng nghiệm: <em>Đánh cho Mỹ cút – Đánh cho ngụy nhào</em>! Đã đến lúc người Mỹ phải rút đi hết, giải giáp các lực lượng vũ trang và cảnh sát, giải tán chính quyền Sài Gòn.</p>
<p>Ông giáo lắc đầu ngán ngẩm:</p>
<p>- Chắc đây là buổi họp cuối cùng của lưỡng viện vì như buổi chợ chiều rã đám. Chỉ lơ thơ còn chừng phân nửa, ai cũng nhấp nhổm như ngồi trên đống lửa nghe mấy ông tướng kể nỗi tuyệt vọng về chiến sự. Đám tàn quân như hổ vô đầu, chắc có làm được chuyện gì không? Tàn cuộc rồi mới nặn ra cái nghị quyết trao quyền Tổng Thống cho ông Minh <em>lớn</em>, dù trong bụng ai cũng thấy đã là qúa muộn. Ông tướng đàn anh không thích Mỹ, từng lưu vong và bị đẩy về hưu sớm, nay đứng ra lãnh cái sứ mạng bi thảm vào phút chót của một chính quyền do người ngoại chủng dựng nên. Viên đại sứ Pháp gợi ý làm trung gian nhờ một quốc gia lớn có nhiều ảnh hưởng gỡ ra thế bí, ông ta chán chường từ chối: <em>Suốt đời tôi đã làm tay sai cho Pháp rồi cho Mỹ đều chuốc lấy thất bại. Bây giờ tôi không thể làm tay sai cho ai nữa để chống lại nhân dân và tổ quốc của tôi</em>! Bước ra khỏi phòng họp, lại một loạt tướng lãnh với nghị viên linh lỉnh theo kế <em>tẩu vi thượng sách</em>! Vậy mà trong buổi lễ bàn giao quyền lực, lão già qúa háo danh, bị phế truất còn muốn bày trò nghi thức có kèn trống tống tiễn cho oai! Hay là tiếc rẻ không được <em>da ngựa bọc thây</em>… già để lưu danh thiên cổ<em> </em>? Cuộc bàn giao thật chán phèo, buồn tẻ vì người giao nói suông vài câu kèm theo lời mai mỉa: <em>Nhiệm vụ của Đại tướng rất nặng nề </em>! Hàm ý chắc gì anh đã làm được hơn tôi? Và người nhận là ôm vào cả một cơ đồ đổ nát thảm thương mà không biết phải làm gì vì phía bên kia coi chính quyền này đã là một con số không thật sự.</p>
<p>Ông Ba hỏi:</p>
<p>- Anh nghĩ sao về bộ sậu mới này?</p>
<p>- Các nhân vật chủ chốt đều là những chính khách có vai vế tiếng tăm và ảnh hưởng lớn, từng tham chính với thái độ ôn hòa. Tướng Dương Văn Minh tỏ thái độ bất hợp tác với Mỹ từ lâu. Ông đã thẳng thừng từ chối món tiền cọc một triệu Dollar của người Mỹ, biến cuộc bàu cử Tổng thống <em>Việt Nam cộng hoà</em> năm 1971 thành trò độc diễn vô duyên, làm nền dân chủ Mỹ bẽ bàng và vai Tổng Thống của Thiệu như một tên hề trơ trẽn lố lăng! Luật sư Nguyễn Văn Huyền là người lịch thiệp, tuy là công giáo nhưng không thuộc phái cực đoan. Giáo sư Luật khoa Vũ Văn Mẫu từng hai lần cạo trọc đầu tỏ thái độ công khai phản đối khi Diệm đàn áp những người Phật tử và khi Thiệu phá hoại Hiệp định Paris. Họ là những trí thức tiêu biểu có uy tín, lớn tuổi và từng trải qua sự thăng trầm của đất nước. Không phải họ không thấy cái thế <em>trứng để đầu đẳng</em> giữa cơn loạn đả này đâu. Họ có thiện tâm, thiện chí.</p>
<p>- Con thuyền mục đáy đến lúc nát vỡ rồi, nhất định chìm thôi, Trời cũng không cứu nổi! Ta ghi nhận tinh thần dân tộc trong họ vẫn có thể đóng góp cho đất nước.</p>
<p>Trận mưa gió lớn và sấm rền chớp giật như báo trước vận mạng của chính quyền đã đến ngày tận số. Cuối ngày, kết thúc cơn mưa là một trận dội bom <em>gậy ông lại đập lưng ông</em> của một phi đội năm chiếc A37 mới lọt vào tay <em>Quân giải phóng</em> ở miền Trung. Sân bay Tân Sơn Nhất ngùn ngụt lửa khói, tanh bành thân xác hàng chục chiếc máy bay. Tiếp theo một đêm pháo kích. Không chiếc máy bay nào có thể cất cánh hoặc bén mảng tới sân bay nữa trong khi trên bản đồ chiến sự đã hình thành năm mũi tiến quân của <em>Quân giải phóng</em> đang khép chặt Sài Gòn.</p>
<p>Ông Ba già căn dặn :</p>
<p>- Lúc này anh cố tìm cách tiếp cận với những người trong nội các mới. Chắc chắn không phải chỉ có một mình anh đâu. Nhưng mỗi người một việc, cố gắng tác động để trước hết họ khỏi bị ám ảnh bởi một sự trả thù mà bọn CIA và đám phản động trong khối tôn giáo dựng lên, đồng thời khơi dậy lòng yêu nước và tinh thần dân tộc trong mỗi con người. Tất nhiên cần hạn chế tối đa những phản ứng qúa khích có thể gây thiệt hại đáng tiếc cho cả hai bên.</p>
<p><strong>M</strong>ột ngày sau khi nhậm chức, tân Tổng Thống chỉ có thể chủ động làm được một việc có ý nghĩa lịch sử là gửi thông điệp cho đại sứ Mỹ cùng lúc với tân Thủ tướng công báo trên đài phát thanh, chính thức yêu cầu toàn bộ người Mỹ còn lại phải rời khỏi Sài Gòn trong 24 tiếng đồng hồ! Một đội quân viễn chinh bị những người yêu nước đuổi đi là chuyện thường tình. Nhưng chuyện có một không hai trong lịch sử mà không ai nghĩ tới là một đội quân xâm lược nhà nghề hùng hậu đến thế vào giờ phút chót phải rời khỏi Việt Nam trong tình cảnh trớ trêu bị chính người cùng hội cùng thuyền xua đuổi quyết liệt vỗ mặt vội vàng như thế!</p>
<p>Người Mỹ đã thực hiện kế hoạch di tản gấp gần mười ngàn người còn lại từ ngày Thiệu nhả ra cái ngai quyền lực được họ ấn ngồi vào. Coi như cuộc chiến tranh do người Mỹ tự làm điêu đứng mình từ đây chấm dứt! Ngày đêm, những chuyến máy bay vận tải chở đầy người di tản nối nhau cất cánh rời sân bay Tân Sơn Nhất. Nhưng họ cũng không ngờ tình hình diễn ra xấu nhanh như thế. Trong khi sân bay thành vô dụng thì cái trát cấp thời tống khứ của người bạn từng đầu gối tay ấp thật qúa phũ phàng! Toà Bạch ốc lập tức ra lệnh thiết lập một cầu hàng không đặc biệt từ các bãi đậu dã chiến là sân thượng của mấy dinh thự công sở ngay giữa lòng thành phố tới hạm đội Bảy áp sát ngoài khơi. Khắp Sài Gòn vang lên những tín hiệu đặc biệt riêng khẩn cấp cho những người Mỹ và một số nhân vật cộm cán ở Sài Gòn có mặt ngay tại các điểm tập trung được kín đáo hẹn trước để kịp thời bốc đi bằng những chuyến máy bay trực thăng Chinook khổng lồ.</p>
<p>Đêm trước ngày nội các ra mắt quốc dân, ông giáo lẫn trong số dân biểu không di tản, theo tướng Minh vào trú tại dinh Tổng Thống. Mọi người tản ra các phòng, từng nhóm ngồi, nằm tạm bợ, không ai ngủ được.</p>
<p>Một đám lính mặc đồ dã chiến, đạn quấn cùng mình, lăm lăm tay súng như sẵn sàng nhả đạn, xông thẳng vào dinh mà không ai dám cản. Viên sỹ quan tiến đến trước Tổng Thống, dậm chân chào theo đúng phép nhà binh, giọng đầy bức xúc:</p>
<p>- Trình Đại tướng <em>Tổng tư lệnh</em> <em>quân lực Việt Nam cộng hòa</em>! Xin ngài cho chúng tôi được tử thủ bảo vệ Sài Gòn!</p>
<p>Hàng trăm con mắt dồn vào ngài tân Tổng Thống. Không ngờ vị Đại tướng cao to thường ngày oai vệ là thế mà trong giờ phút định mệnh này lại tỏ ra xúc động tưởng như là mềm yếu. Ông bước tới,đđặt tay lên vai viên sỹ quan vẫn trong tư thế nghiêm chờ lệnh. Giọng ông nhỏ nhẹ thân tình như muốn trên dưới cùng chia sẻ với nhau nỗi khó lúc này:</p>
<p>- Cảm ơn các em! Là người lính, <em>qua</em> biết thế nào là thắng là bại. Nhưng muộn qúa rồi! Phải làm gì để anh em binh sỹ và nhân dân không phải đổ thêm máu ra vô ích và giữ cho thành phố Sài Gòn này không đổ nát!</p>
<p>Bao nhiêu tiếng thở dài do bị dồn nén lại cùng trút ra như một làn gió làm dịu đi bầu không khí căng thẳng trong phòng dù không ai kịp nghĩ là điềm lành hay dữ nữa. Mấy người lính chúi nòng súng xuống cúi đầu lầm lũi bước ra.</p>
<p>Vào lúc khuya, một đám người nhốn nháo chạy ra sân cỏ trước dinh có đỗ hai chiếc phi cơ trực thăng dành riêng cho Tổng Thống. Họ vội vã mà kín đáo, rồi tiếng động cơ gầm lên, hai chiếc chuyên cơ lao thẳng vào đêm tối. Mọi người nhìn nhau muốn hỏi một điều gì. Viên sỹ quan tùy tùng trong dinh giải thích:</p>
<p>- Tổng Thống cho phép phi công di tản. Còn ổng thì ở lại.</p>
<p>Có người mừng vì hy vọng vẫn còn có người che chở. Có người tỏ ra nuối tiếc vì không biết trước nên chậm chân lỡ cuộc.</p>
<p>Vừa lúc hừng đông của một ngày mới bắt đầu, viên Toàn quyền Martin tay ôm chiếc cặp chứa lá cờ quốc thể, tay ôm con chó cưng buồn bã và cay đắng leo lên chiếc trực thăng riêng trên nóc tòa sứ quán, có đám <em>Thủy quân lục chiến</em> súng trên tay sẵn sàng loại bỏ bất kỳ ai liều chết bám theo. Cuộc rút chạy của những tên xâm lược Mỹ cuối cùng ra khỏi Việt Nam diễn ra như thế, mặc xác hàng ngàn người Việt Nam bán mình cho họ dù được ưu tiên lọt vào khuôn viên tòa đại sứ với lời hứa sẽ không bỏ lại một ai! Và ngoài bến cảng Bạch Đằng, quang cảnh còn thảm thiết hơn: cơ man nào người chìm trong những tiếng kêu la, khóc lóc, chửi thề, nguyền rủa… với những vẻ mặt hoang mang, thất vọng, oán hờn nhìn theo những con tàu oằn lưng rẽ sóng chạy tít ra khơi như chiếc lá bay về phía chân trời!</p>
<p>Ông giáo Phú chợt nhớ tới câu nói lịch sử của Napoléon Bonapart bên bờ sông Vistule năm nào: <em>Từ vinh quang đến lố bịch chỉ một bước thôi</em>! ấy là sau trận Borodino trước cửa ngõ Maskva, mặc dù Cutudốp phải rút quân về Tula nhưng Bonapart vẫn phải vội vàng kéo đám hùng binh hổ tướng tháo chạy khỏi nước Nga giữa mùa đông tuyết giá hoang tàn, để diễn ra bao cảnh thảm thương!</p>
<p>Qua phút xúc cảm xuất thần, ông giáo giật mình trở về thực tại: Đã không còn náo loạn tiếng máy bay trên trời nhưng đường phố Sài Gòn rộn lên những tiếng thắng xe ghê rợn rít lên đây đó trước những người bị bỏ rơi thất thần, hốt hoảng trong bước đường cùng lẫn với một đội quân thừa cơ cướp bóc và đi hôi của ở các tiệm vàng, cửa hàng, các nhà giàu, các công sở, các dinh thự của người nước ngoài bỏ trống. Trong lúc hỗn loạn như thế mà không thấy bóng dáng viên cảnh sát nào. Đám lính bị bỏ rơi đã nhanh chóng biến thành lũ nặc nô hung hăng công khai cướp bóc. Người thành phố càng hoang mang rối loạn nghe đủ các tin đồn về một <em>cuộc tắm máu</em> trả thù sắp tới.</p>
<p>Tưởng là ngày hoàng đạo thì mọi chuyện đều êm đẹp nhưng ngay từ buổi sớm, trước tình thế vô phương cứu vãn, nội các mới hình thành dở dang, chỉ còn cách ra tuyên bố sẵn sàng bàn giao chính quyền cho <em>Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam</em>. Đồng thời, tướng đại diện <em>Tổng tham mưu</em> quân đội Sài Gòn ra lệnh cho các sỹ quan và binh lính chấp hành lệnh ngưng bắn ngay tại chỗ. Một nội các lèo tèo không quân, không tướng, không ai công nhận, ngồi chờ một biến cố phi thường đang ập đến mà chưa biết họa phúc thế nào!</p>
<p><strong>N</strong>ăm mũi tiến của <em>Quân giải phóng</em> đã hợp quân ở các điểm địa đầu nhằm vào các mục tiêu trọng yếu giữa nội đô. Đoàn tăng hòa vào đoàn xe dằng dặc nối nhau trên quốc lộ Một đổ vào thành phố.</p>
<p>Phía trước là một chiếc cầu, mặt đường bị cày xới chỗ đỏ quạch, chỗ nám đen khói đạn. Một cô gái bận đồ bà ba đen, khăn rằn, nón tai bèo, khoác súng AK, tay đeo băng đỏ, tay giơ ngang lá cờ <em>Mặt trận</em> vẫy vẫy. Nhân Trí ra hiệu cho xe dừng lại, hét to lên:</p>
<p>- Đây là đâu?</p>
<p>- Cầu Rạch Chiếc!… Kế là cầu Sài Gòn… vừa ngơi tiếng súng!… Chạy tới ngã tư lớn quẹo trái… Qua cầu Thị Nghè… thẳng miết tới dinh Độc lập!</p>
<p>Nhân Trí chỉ những người lố nhố đang lúi húi trên bờ, lặn ngụp dưới sông, cảnh giác:</p>
<p>- Những ai đang làm gì dưới hai bên chân cầu kia?</p>
<p>Giọng cô gái lạc đi:</p>
<p>- Mấy anh <em>Giải phóng</em> và du kích đang tìm tử sỹ… Hôm qua ở đây đánh lớn lắm!</p>
<p>Chiếc xe hồng hộc phun làn khói đen đặc giận giữ lao đi, thoáng đã nhập vào dòng xe hối hả.</p>
<p>Cầu Sài Gòn còn vương khói súng. Xác xe tăng trên cầu. Xác tàu chiến dưới sông. Mấy chiến sỹ đặc công có người còn băng trắng trên đầu, trên mình… nằm phục hai bên đường giương súng trong tư thế sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đoàn xe. Mấy chiến sỹ đánh đu dưới thành cầu kiểm tra xem có mìn gài. Mặt đường đầy những súng bộ binh, mũ nón, áo quần, giày dép lính ngụy tung tóe. Lố nhố những bóng người mình trần, quần cụt, chân đất hớt hải chạy tụt vào các bụi cây, con hẻm và những ngôi nhà… Những trận ác chiến hôm trước, hôm nay quyết liệt giành giật từng chiếc cầu, điểm yếu. Dù sao đó cũng chỉ là sự chống trả của lũ rắn mất đầu, rã rời trước sức tiến công ào ạt của <em>Quân giải phóng</em> trên mọi nẻo đường tiến vào thành phố.</p>
<p>Khi ổ đề kháng cuối cùng trên cầu Thị Nghè bị đập tan, xe của các đơn vị đan xen nhau chiếm lĩnh các vị trí được giao.</p>
<p>Đường phố vắng tanh. Nhà nhà đóng cửa. Những người lính ngồi trong tháp xe hay bám bên thành xe trong tư thế chiến đấu với tâm trạng vừa căng thẳng vừa hồi hộp, không hiểu phản ứng của dân chúng thế nào.</p>
<p>Trong khuôn viên dinh Độc lập người ta hỗn độn không ai kiểm soát được ai. Lính tráng đã được lệnh tập trung vũ khí, đề phòng một sự phản ứng cùng đường có thể gây nguy hại cho biết bao sinh mạng. Người bồn chồn, bứt rứt. Người rũ rượi ủ ê. Đám lính cởi trần nằm ngồi ngả ngốn ở các gốc cây không biết phải làm gì. Đám chính khách mặt mày sầu não, quần áo dù cố kéo cho thẳng nhưng vẫn nhàu nhĩ sau cả một đêm không ngủ và từ chiều hôm qua chưa có chút gì vào bụng. Có một số người lăng xăng vào ra như đang trông đợi. Ông giáo Phú nghĩ trong số những người hiện diện ở đây chắc chắn có không ít người đàng mình. Nhưng họ là ai? Ông lẳng lặng theo dõi, vẫn không bộc lộ mình ra. Lúc này, mỗi người nghĩ tới thân phận mình sẽ sao đây chứ không ai nghĩ tới anh này đối lập hay anh kia trung lập. Có người tỏ ra ân hận sao trù trừ trong khi trước đó có thể lo thoát sớm đi. Chính ông giáo Phú cũng thấy phập phồng, không hiểu rõ tâm trạng của mình ra sao nữa. Mừng thì có mừng. Nhưng vẫn có chút gì gờn gợn.</p>
<p>Khi tốp xe tăng lạ có in hình ngôi sao năm cánh lao tới ủi sập cánh cổng tiến vào sân. Có mấy người cầm súng, giương lá cờ nửa xanh, nửa đỏ có ngôi sao vàng ở giữa chạy vào thì ông như một cậu học trò không kìm được mình nữa, nhảy tưng lên, chạy ùa ra đón những chiến sỹ <em>Quân giải phóng</em>. Ông không biết từ đâu mình lại có lá cờ như thế trên tay và ông chạy ngược ra phía cổng. Một chàng thanh niên xịch đỗ chiếc xe gắn máy sát lại. Ông nhảy vội ngồi sau xe và giơ cao ngọn cờ lên vẫy vẫy trong khi người thanh niên vừa phóng vù vù, vừa hét thật to :</p>
<p>- <em>Quân giải phóng</em> chiếm dinh Độc Lập rồi!</p>
<p>Một già, một trẻ cứ như bay trên đường phố thông báo tin thắng lợi cuối cùng.</p>
<p>Cùng lúc các mũi tiến quân đã lao vào nhanh chóng chiếm lĩnh sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh biệt khu thủ đô, Tổng Nha cảnh sát…</p>
<p>Phố xá nhốn nháo lên. Người chạy bộ, người chạy xe tấp nập và mỗi lúc một đông hơn. Đoàn xe <em>Quân giải phóng</em> hành tiến chậm dần, có chỗ dồn lại. Bộ đội đứng trên xe, nhảy xuống đường cũng hét vang lên:</p>
<p>- Giải phóng Sài Gòn! Giải phóng miền Nam!</p>
<p>Các tiếng súng lớn, súng nhỏ nổ liên hồi. Lúc đầu có người sợ qúa chạy ngược vào nhà. Nhưng sau rồi nghe vui như pháo tết. Người ta lại túa ra đường đông hơn.</p>
<p>Trên một chiếc xe tăng, anh lính trẻ măng, mặt tươi rói, giơ cao khẩu AK khua khua trên đầu. Anh ta hét lớn lên những lời thơ ứng khẩu:</p>
<p><em>Ôi Tổ quốc giang sơn hùng vĩ</em></p>
<p><em>Đất anh hùng của thế kỷ hai mươi </em></p>
<p><em>Đứng hiên ngang trên tuyến đầu chống Mỹ </em></p>
<p><em>Có Việt Nam anh dũng tuyệt vời !</em></p>
<p><em>Việt Nam ta độc lập thống nhất rồi</em> !</p>
<p>Bao nhiêu người bu lại quanh xe. Họ vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Nhiều chàng trai, cô gái đề nghị anh nói đi nói lại nhiều lần để họ nhập tâm vì trong lúc bất thần thế này không có gì để ghi chép lại. Lần đầu tiên người dân thành phố được nghe những lời ngợi ca hào tráng về một tổ quốc Việt Nam mà trước đây họ chỉ nghĩ tới sự tang thương. Và cũng lần đầu tiên không ít người nhận ra mình là một bộ phận của dân tộc ấy, của tổ quốc ấy đáng tự hào đến thế.</p>
<p>Đang lúc phấn chấn, anh lính trẻ vươn người, ưỡn ngực, giơ cao hai tay lên, ngửa mặt nhìn trời và hét thật to:</p>
<p><em>Hòa bình – Hạnh phúc – ấm no</em></p>
<p><em> Cho CON NGƯờI Sung sướng – Tự do</em>!</p>
<p>Tiếng súng các loại cứ vang lên trong nỗi hân hoan chiến thắng để một phút người ta quên đi lẫn trong đó có cả những tiếng súng hận thù. Anh lính trẻ bỗng buông rơi cây súng, tay ôm ngực ngã chúi xuống đường.</p>
<p>Mọi người lại xô nhau bỏ chạy. Bộ đội tản ra trên đường. Nòng súng tăng hạ xuống nhắm về các ngôi nhà chung quanh. Trung đội trưởng Nhân Trí hét lên:</p>
<p>- Các đồng chí! Phải nhằm đúng đối tượng mà bắn. Đừng bắn lầm chết dân!</p>
<p>Nhưng đối tượng ở đâu? Nó đang lẩn khuất đâu đây? Mấy nòng súng đại bác, đại liên quay vòng như điên mà không dám phát hỏa. Mấy tay súng bộ binh chỉ dám giận dữ bắn chỉ thiên. Yên Thịnh từ trong tháp xe nhảy xuống ôm xác nhà thơ trẻ khóc oà lên.</p>
<p>Lệnh hành tiến tiếp.</p>
<p>Một chiếc xe com măng ca trờ tới. Mấy chiến sỹ khiêng xác đồng đội lên xe. Yên Thịnh không chịu rời xa người bạn hồn nhiên thân thiết ấy. Chiếc xe phải vất vả lắm mới tách ra khỏi đám đông người bùi ngùi, xụt xịt trước cái chết của người chiến sỹ trong giờ chiến thắng.</p>
<p>Chiếc xe chở tử sỹ về đến trạm y tế dã chiến đúng lúc mọi người đang túm tụm nghe đài Sài Gòn phát lời của Tổng Thống Dương Văn Minh kêu gọi <em>quân đội cộng hòa</em> hạ vũ khí đầu hàng. Tiếp ngay đó, lời vị đại diện <em>Quân giải phóng</em> đanh thép, long trọng tuyên bố thành phố Sài Gòn đã được giải phóng, chấp nhận sự đầu hàng vô điều kiện của đội quân tay sai và giải thể chính quyền do ngoại bang ngụy tạo kể từ giờ phút lịch sử này.</p>
<p>Trong khi mọi người nhảy lên vỗ tay reo mừng hoặc ôm nhau khóc khóc cười cười thì Yên Thịnh hai tay bưng mặt, càng khóc nức nở hơn.</p>
<p>Lúc đó vào buổi trưa ngày 30 tháng Tư năm 1975.</p>
<p><strong><em>NGUYễN VĂN THịNH</em></strong></p>
<p><strong>Tiểu thuyết THờI BI TRáNG </strong></p>
<p><strong>Chương chín</strong></p>
<p>(Chưa xuất bản)</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/vanhacyb.wordpress.com/5891/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/vanhacyb.wordpress.com/5891/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/vanhacyb.wordpress.com/5891/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/vanhacyb.wordpress.com/5891/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/vanhacyb.wordpress.com/5891/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/vanhacyb.wordpress.com/5891/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/vanhacyb.wordpress.com/5891/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/vanhacyb.wordpress.com/5891/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/vanhacyb.wordpress.com/5891/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/vanhacyb.wordpress.com/5891/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/vanhacyb.wordpress.com/5891/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/vanhacyb.wordpress.com/5891/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/vanhacyb.wordpress.com/5891/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/vanhacyb.wordpress.com/5891/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vanhacyb.wordpress.com&amp;blog=7020745&amp;post=5891&amp;subd=vanhacyb&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/29/hoa-binh-%e2%80%93-mau-va-n%c6%b0%e1%bb%9bc-m%e1%ba%aft/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/8e6815571642b8969077094b7f6e6713?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">tranvanhac</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Hoa Ngọc Hà</title>
		<link>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/14/hoa-ngoc-ha/</link>
		<comments>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/14/hoa-ngoc-ha/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 14 Mar 2010 13:37:56 +0000</pubDate>
		<dc:creator>tranvanhac</dc:creator>
				<category><![CDATA[Bầu bạn bốn phương]]></category>
		<category><![CDATA[hoa ngoc ha]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vanhac.org/?p=5890</guid>
		<description><![CDATA[Nguyễn Văn Thịnh (T.P.H.C.M - Kỷ niệm 45 năm ngày KQNDVN đầu tiên xuất kíchbắn rơi máy bay Mỹ trên bầu trời Thanh Hóa 3 tháng Tư năm 1965 – 3 tháng Tư năm 2005) Người dũng sỹ lòng đầy tin tưởng Khi quên  mình cho một chiến công Nhân dân lòng muôn vàn yêu [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vanhacyb.wordpress.com&amp;blog=7020745&amp;post=5890&amp;subd=vanhacyb&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong> Nguyễn Văn Thịnh (T.P.H.C.M -<em> </em></strong><em>Kỷ niệm 45 năm ngày KQNDVN đầu tiên xuất kíchbắn rơi máy bay Mỹ trên bầu trời Thanh Hóa 3 tháng Tư năm 1965 – 3 tháng Tư năm 2005</em><strong>)</strong></p>
<p style="padding-left:210px;">Người dũng sỹ lòng đầy tin tưởng</p>
<p style="padding-left:210px;">Khi quên  mình cho một chiến công</p>
<p style="padding-left:210px;">Nhân dân lòng muôn vàn yêu qúy</p>
<p style="padding-left:210px;">Dành cho anh lời vĩnh biệt cuối cùng</p>
<p style="padding-left:210px;">Victor Hugo</p>
<p style="padding-left:210px;">(Đám tang &#8211; Năm khủng khiếp)<span id="more-5890"></span></p>
<p>Cẩm Nhung dỡ chiếc mũ rơm rộng vành ra khỏi đầu, móc vào tay lái xe, ngập ngừng đến gần anh lính gác cổng sân bay. Anh lính chăm chăm nhìn cô gái trẻ trên mình đầy bụi cát:</p>
<p>- Chị đến tìm ai?</p>
<p>- Tôi muốn gặp anh Huỳnh Anh Dũng?</p>
<p>- Ở đơn vị nào?</p>
<p>Cẩm Nhung lục trong túi xách đưa ra chiếc phong bì. Anh ta liếc qua rồi nhìn cô gái dò xét :</p>
<p>- Anh ấy làm nhiệm vụ gì?</p>
<p>- Lái máy bay!</p>
<p>Anh lính hỏi vặn :</p>
<p>- Chị với anh ấy là thế nào?</p>
<p>Cẩm Nhung ấp úng :</p>
<p>- Là… bạn!</p>
<p>Anh lính cười :</p>
<p>- Bạn cấp mấy mà dám vượt đường xa nguy hiểm đến thăm nhau lúc này?</p>
<p>Cẩm Nhung hơi khó chịu nhưng cố làm lành :</p>
<p>- Vâng! Tôi từ Hà Nội lên. Anh thông cảm cho tôi được gặp anh ấy để còn về kịp trong ngày.</p>
<p>Anh lính kiểm tra giấy tờ hợp lệ rồi mới đi vào quay chiếc máy bộ đàm đặt trên nóc tủ trực ban. Khi trở ra, anh ta vui vẻ :</p>
<p>- May đấy, sắp đến giờ người ta trực chiến. Chị đi thẳng đường này, tới ngã ba rẽ phải, đi một khúc qua dãy nhà A, rẽ trái, tới dãy nhà bê (B), hỏi tới nhà xê (C) là nơi dừng chân sơ bộ. Sau đó tuỳ tình hình sẽ được dẫn tới nhà dê (D) hay đê (Đ) gì cũng được – Anh ta tủm tỉm cười dặn với :… Nhớ khẩn trương tranh thủ mà về, chớ có ham qúa mà xơi bom Mỹ đấy!</p>
<p>Cẩm Nhung đã ra trường, làm cô giáo tại một trường cấp III ở ngoại thành. Cô ở nội trú trong khu tập thể giáo viên, chiều thứ bảy mới về nhà, sớm thứ hai lại đi. Ngoài chuyên môn, cô công tác đoàn thể tích cực và được giao nhiệm vụ Bí thư chi đoàn trường và có chân trong Huyện đoàn nữa.</p>
<p>Ngày 3 tháng 4 năm 1965, Không quân nhân dân Việt Nam bất thần xuất kích bắn rơi 2 chiếc máy bay F8-Con ma của Không quân Mỹ trên bầu trời Thanh Hóa khi chúng vào đánh phá cầu Hàm Rồng. Tiếp đó ngay hôm sau, vẫn bằng những chiếc máy bay MIG17, ta lại bắn gục 2 chiếc F105-Thần sấm hiện đại nhất của không lực Hoa Kỳ. Bác Hồ biểu dương: trong lịch sử chiến tranh giữ nước, nhiều lần quân và dân ta đã dầm đầu kẻ địch trên đất liền, trên sông biển. Nhưng đây là lần đầu tiên quân và dân ta dầm đầu kẻ địch ngay cả ở trên không! Cả nước nức lòng.</p>
<p>Trong một buổi mít tinh của nhân dân thành phố chào mừng binh chủng Không quân của ta non trẻ mà đã lập được chiến tích vẻ vang, Cẩm Nhung đại diện cho Đoàn Thanh Niên khối nhà trường được mời tham dự. Mấy chiến sỹ lái máy bay tiêu biểu được đón chào nhiệt liệt. Các anh báo cáo với bà con về những chiến công mà trước đó chưa hình dung nổi : máy bay của ta do nước bạn viện trợ đã thuộc loại cổ lỗ đến đời thứ mấy rồi, người ta chỉ dùng để huấn luyện các phi công chiến đấu tập lái lúc đầu thôi. Trong khi máy bay của Mỹ thuộc loại hiện đại đời mới nhất, vượt xa ta về tốc độ, đường dài, thời gian bay và kể cả vũ khí tấn công nữa. Kẻ địch áp đảo ta về số lượng, khí tài, kỹ thuật nhưng ta áp đảo nó bằng ý chí  chiến đấu bảo vệ tổ quốc mình, phát huy tinh thần chiến tranh nhân dân, vận dụng chiến thuật đánh du kích, tiếp cận bất ngờ, bám thắt lưng địch mà đánh, hợp đồng tác chiến dưới đất – trên không, nên những chiến sỹ lái máy bay của ta dám đánh và đã thắng. Cẩm Nhung càng sung sướng và cảm động nhận ra người bạn cùng học ngày nào nay là một trong những phi công anh hùng ấy.</p>
<p>Trường Phổ thông cấp III Nguyễn Trãi ở phố Cửa Bắc có một số bạn học sinh đặc biệt của miền Nam cùng học. Anh Dũng và Cẩm Nhung học chung từ lớp 8 đến lớp 10. Anh chàng Dũng thích thể dục-thể thao. Cô bé Nhung hay văn nghệ. Cả hai cùng là đoàn viên thanh niên tích cực nên còn lưu nhiều kỷ niệm về một thời học sinh sôi nổi. Tuy nhiên học sinh Hà Nội lứa ấy đa phần là con em các gia đình viên chức, binh sỹ, thương nhân… có nhiều dính dáng tới chính quyền cũ và không ít người có quan hệ gần gũi với những người đã bỏ vào Nam. Không như các bạn học sinh miền Nam toàn là con em những người kháng chiến gửi ra miền Bắc đào tạo thành những hạt giống đỏ cho miền Nam sau này. Trong khi xã hội lại kích lên sự đối kháng giai cấp không thể điều hòa, phân biệt đối xử giữa các thành phần xã hội. Cho nên ở tuổi mới vào đời ấy, một bên luôn mặc cảm, một bên lúc nào cũng thấy tự hào. Dù các bạn học sinh miền Bắc rất thương qúy các bạn học sinh miền Nam sớm thiếu vắng tình cảm gia đình nhưng giữa hai bên vẫn có một sự cách biệt khó gần.</p>
<p>Bây giờ gặp người bạn một thời cắp sách trong ánh hào quang của người hiệp sỹ đang chiến đấu bảo vệ đồng bào trong đó có mình, lòng Cẩm Nhung không khỏi bồi hồi xúc động và sung sướng. Chiến sỹ phi công Anh Dũng không ngờ gặp lại người bạn gái xinh xắn năm xưa mà anh vẫn mến mến thương thương nhưng không biết làm sao gần được. Hai người ôm chầm lấy nhau ríu rít như đôi bạn thân tình lắm trước sự vui mừng chia sẻ và cả sự ước ao của không ít bạn trẻ đứng vây quanh. Dù yêu qúy người phi công anh hùng ấy, chẳng những đã dũng cảm hạ gục một Thần sấm Mỹ, lại thông minh khôn khéo đánh lừa địch hạ cánh an toàn trong một tình huống đặc biệt xuống một bìa rừng, vừa thoát hiểm cho mình lại vừa bảo vệ được chiếc máy bay qúi báu. Câu chuyện của anh kể nghe như huyền thoại giữa đời thường. Ai cũng muốn nắm tay anh hoặc chỉ được sờ vào người anh thôi, xem người nhà trời ấy có gì khác với người thường? Nhưng lúc này mọi người tự động dãn ra thành một lối đi dù chật hẹp mà đôi bạn vẫn có thể lách ra một chỗ vắng trao đổi tâm tình chốc lát.</p>
<p>Lá thư đầu tiên ngắn gọn, hơi hoa mỹ nhưng bộc trực của con nhà lính,  cô đọc mấy lần đã thuộc:</p>
<p>Cẩm Nhung mến thương !</p>
<p>Từ ngày xa trường Nguyễn Trãi, mình cứ tưởng Cẩm Nhung như một áng mây trời rất đẹp bay qua không bao giờ trở lại ! Nhiều lần bay trên trời, chợt nhớ, mình thử liều bay vượt trên cao độ cho phép để tìm… May ra…</p>
<p>Đột nhiên trong đêm tối, giữa biết bao khuôn mặt mờ nhòa, mình lại được ôm đám mây ấy trong lòng dù chỉ là khoảnh khắc. Hạnh phúc qúa !</p>
<p>Giá như mỗi lần hạ gục một tên giặc trời, mình lại được một lần như thế. Hơn cả huân chương ! Hơn cả mọi lời khen !</p>
<p>Phần thưởng ấy thật là vô giá và chỉ có Cẩm Nhung mới có thể mang lại cho mình thôi !</p>
<p>Mình không hình dung nổi đám mây ấy trắng, vàng, hồng hay là ngũ sắc. Nhưng mà đẹp lắm. Dường như nó từ Cẩm Nhung tỏa ra đấy !</p>
<p>Đôi lúc mình nghĩ hạ một chiếc máy bay giặc không khó bằng được chìm mình trong đám mây tuyệt vời như thế !</p>
<p>Trong mình một chút buồn thoáng qua !</p>
<p>Rất thân thương !</p>
<p>Những lá thư sau không hoa mỹ nữa, ngắn gọn, thận trọng mà chân chất. Lá thư gần đây nhất gửi qua tay một người bạn, chỉ vẻn vẹn mấy dòng thôi :</p>
<p>Cẩm Nhung !</p>
<p>Mình sắp đi xa…</p>
<p>Không được phép tiết lộ.</p>
<p>Rất mong được gặp Cẩm Nhung.</p>
<p>Thân yêu !</p>
<p>Cẩm Nhung thắc thỏm, đêm không ngủ được. Lúc này máy bay Mỹ ngày nào cũng táo tợn bay vào đánh phá nhiều nơi kể cả tận trên Yên Bái giáp ranh Trung quốc nữa. Gần như ngày nào cũng có không chiến. Những lúc nhìn chiếc MIG17 sà ngay trên những nóc nhà, ngọn cây tìm nơi hạ cánh như một cánh nhạn chao nghiêng trước sự hung hãn của bầy ác điểu, lòng cô thắt lại, hồi hộp, lo âu nghĩ tới bạn. Lúc này mà đi xa là đi đâu? Chả lẽ anh ấy lại vào Nam? Lòng cô bồn chồn, trào lên niềm thương nhớ bâng khuâng.</p>
<p>Huỳnh Anh Dũng cảm động lộ rõ trên nét mặt, cử chỉ và lời nói run run. Gửi thư đi liệu có được sự đáp lại như điều mong muốn? Anh nắm bàn tay bạn không biết bao lâu và chợt tỉnh nhận ra Cẩm Nhung cười nhăn mặt thì thào:</p>
<p>- Đừng anh! Đau em lắm !</p>
<p>Đấy không phải lời trách cứ hay sự chối từ vì lời nói và hơi thở nghe da diết yêu thương. Anh sửa lỗi bằng cử chỉ thân thiết phủi đi những vết đất bám đầy trên mình bạn.</p>
<p>- Chưa hết một buổi sáng mà em phải nhảy xuống hầm cá nhân bên đường tới mấy lần !</p>
<p>Cẩm Nhung đứng yên để bạn phủi đi bụi đất cho mình. Cô cẩn thận lấy ra từ chiếc túi xách một bọc giấy báo đưa cho bạn. Dũng từ từ mở ra và reo lên:</p>
<p>- Hoa hồng đẹp quá!</p>
<p>Cẩm Nhung khoe :</p>
<p>- May qúa!&#8230; Em chỉ lo bó hoa thôi… Đố anh biết hoa này trồng ở đâu nào?</p>
<p>- Anh chỉ cần biết hoa em mang đến cho anh là đẹp nhất rồi!</p>
<p>- Còn hơn thế nữa cơ… Vì em lên tận Ngọc Hà, tìm vườn nào có hoa đẹp nhất để mang lên tặng các anh đấy!</p>
<p>Dũng nhảy tưng lên như trẻ con chạy vòng quanh reo lên khoe các bạn :</p>
<p>- Hoa Ngọc Hà chính hiệu đây! Hoa Ngọc Hà số một đây!</p>
<p>Đồng đội xúm đến cùng ngắm những cánh hồng nhung thật đẹp và chia vui với bạn. Một chàng trai giơ cao bó hoa lên nói lớn :</p>
<p>- Đây là cách con gái Hà Nội bảo tụi mình phải đánh cho ra trò đấy !</p>
<p>Cẩm Nhung rối rít xua tay :</p>
<p>- Ơ!&#8230; Em không dám nghĩ thế đâu… Em chỉ thấy các anh mới xứng đáng nhận những đóa hoa đẹp nhất này thôi!</p>
<p>- Con gái Hà Nội khéo ghê chưa! – Một chàng trai xuýt xoa khen.</p>
<p>Thời gian gặp gỡ không nhiều vì tình huống bất thường có thể xảy ra. Dũng ghé tai bạn nói ra điều anh muốn giấu :</p>
<p>- Chiến sự ngày càng ác liệt. Bạn đồng ý chi viện cho ta phương tiện chiến đấu hiện đại hơn. Dũng được cử đi học cách sử dụng đồng thời mang theo về nước.</p>
<p>Cẩm Nhung thở phào nhẹ nhõm, nắm chặt tay bạn và nheo mắt cười. Chuyện vui nhưng lúc này tuy không nói ra mà cả hai người đều không muốn xa nhau.</p>
<p>Trước khi chia tay Cẩm Nhung trêu bạn:</p>
<p>- Lính nhà trời dồn hết sức văn chương chỉ được một bức thư đầu, sau đó thì… cụt lủn và cộc lốc!</p>
<p>- Chút xíu nữa là rớt một sao đấy! Mấy ông chính trị kiểm duyệt thư kêu lên phê phán là thiếu tính kỷ luật và lập trường giai cấp : Sử dụng một phương tiện hiện đại là ý thức chấp hành nguyên tắc phải nghiêm ngặt! Không phần thưởng nào lớn hơn lời khen của Bác ! Không có gì cao qúi hơn phần thưởng của Đảng và Quân đội! – Anh chỉ vào một ngôi sao mới trên ve áo:… Sao này chậm mọc sáu tháng để có thời gian suy nghĩ đấy! – Anh cười xoà:… Văn chương xin cạch tới già. Tơ vướng vấn vít chỉ mình… với nhau!</p>
<p>Cẩm Nhung dừng lại nhìn vào mắt anh rồi nàng cúi xuống, chân di di trên đất. Anh kéo người bạn gái đã thành thân thiết ôm chặt vào mình và hít hà lâu lắm làn tóc ấy dù vương cát bụi. Cẩm Nhung áp mình trong anh, dụi dụi đầu nơi ngực mà không phân biệt được tiếng tim ai như trống đập rộn ràng.</p>
<p>Tiếng còi rít lên rầm rĩ náo động không trung, báo động máy bay địch xâm phạm bầu trời.</p>
<p>Cái giây phút ấy đã như lời hẹn ước đinh ninh cả hai người mãi thuộc về nhau. Các bạn chọc anh: Mặc mẹ máy bay, tranh thủ làm một cái hôn đã đời ! Thật tình lúc đó anh thấy sung sướng quá rồi, người cứ run lên. Lá thư này như một test trắc nghiệm xem tình cảm của đối tượng tới đâu. Cuộc sống của người lính chiến trên không gấp gáp rủi nhiều may ít và trong hoàn cảnh đặc biệt của binh chủng không quân Việt Nam mới lập thành thì mỗi khi chiếc phi cơ chiến đấu bất ngờ rời khỏi một sân bay dã chiến đều khó trở về đúng nơi cất cánh. Người ta chỉ được thông tin về máy bay địch bị đánh tả tơi rơi rụng nhưng mấy ai biết được sự tổn thất của các anh. Như trận chiến trên không hôm ấy, phi đội bốn chiếc của anh trong vòng bủa vây tầng tầng lớp lớp của 24 chiếc máy bay địch, chỉ còn mình anh hạ cánh an toàn trong một tình thế xuất thần may mắn. Lại những lần cất cánh tiếp theo. Những người lính mỗi khi xuất trận đều khát khao được mang theo trong mình một ánh mắt, một nụ cười, một lời thủ thỉ bên tai, một nụ hôn đắm đuối, một vòng tay da diết, một tiếng khóc trẻ thơ… chỉ càng làm cho họ tăng thêm dũng khí lao vào nơi hiểm nguy nhất để giành chiến thắng. Với anh, đây là lần đầu tiên được ôm gọn trong lòng tấm thân mềm nóng của một người con gái mơ ước từ lâu đã là mãn nguyện qúa rồi.</p>
<p>Cẩm Nhung cười thầm mãi mỗi khi nhớ lại giây phút thần tiên ấy :</p>
<p>- Lính nhà trời oanh liệt thế mà lại… nhát !</p>
<p>Một ngày chủ nhật, mất cả buổi sáng ở Mậu dịch Bách hóa tổng hợp Tràng Tiền ông Phán Thanh mới thoát ra khỏi dòng người nối đuôi nhau ở quầy bán vải. Tay xách cái túi nhỏ, ông đi như chạy không biết vì vui hay muốn tránh xa sự ngột ngạt chỗ đông người. Mấy người chạy đuổi theo săn đón xin được nhượng lại, ông chỉ lặng thinh lắc đầu. Ông cắm cúi lấy xe ra, vừa ngồi lên yên, một cậu thanh niên níu xe ông năn nỉ :</p>
<p>- Bố ơi! Con sắp lấy vợ mà không có cái quần mặc cho ra hồn. Bố thương con trai đi. Bao nhiêu con cũng chịu.</p>
<p>Thực ra nhu cầu quần áo với ông không thiếu. Ông lưỡng lự nhìn trước nhìn sau rồi rút ra mảnh vải gabardine dúi cho anh ta. Cậu chàng tốc áo lên nhét vào trước bụng, vội vã móc túi đưa tiền cho ông và chạy đi mất hút. Mấy bà mấy cô ở đâu xấn lại, nhao nhao vừa trách vừa hỏi vặn. Ông lúng túng chưa biết cách gỡ ra. Một chị giật lấy mấy đồng tiền ông đang cầm trên tay rồi ấn trả vào túi ông, miệng chửi ngoa lên:</p>
<p>- Tổ sư cha thằng đểu! Bố bị lừa rồi. Nó trả cho bố nó chỉ bằng nửa giá thôi!</p>
<p>Ông thở dài, chẳng nói gì được nữa, lẳng lặng phóng xe đi. Ngang qua Bờ Hồ,  cảm thấy vừa mệt, vừa ngượng lòng vì đã bán đi tiêu chuẩn nhà nước cấp cho cán bộ, lại vừa ngẩn ngơ tiếc của. Ông xuống xe dắt bộ định tìm chỗ ngồi nghỉ tạm. Cẩm Nhung, con gái ông vừa sinh thằng bé trong khi chồng nó là phi công bận trực chiến không về được. Ông tự tìm lời an ủi : dù sao với số tiền này cũng mua được mấy cân đường, hộp sữa làm qùa cho đứa cháu đầu lòng và bồi dưỡng thêm cho con gái.</p>
<p>Lá cờ trên đỉnh Tháp Rùa rủ xuống với giải băng đen nặng nề. Cả nước đang bàng hoàng mang nỗi đau lớn nhất trong những ngày để tang Hồ Chủ tịch. Đành rằng luật sinh-lão-bệnh-tử chẳng từ một ai mà mọi người vẫn có cảm giác hụt hẫng không thể nào tin, mặc dù Cụ đã ở vào lớp người xưa nay hiếm. Cả cuộc đời hoạt động tận tụy của Người là tấm gương yêu nước sáng ngời. Cuộc sống trí tuệ mà nhân ái, thanh cao, giản dị của Cụ chinh phục cả đồng bào, đồng chí, bè bạn lẫn kẻ thù.</p>
<p>Nghĩ tới phận mình, phận nước mà lòng ông hoang mang qúa. Ngày giải phóng Thủ đô, vợ ông mang hai đứa con nhỏ cùng gia đình bên ngoại theo Chúa vào Nam. Ông vẫn nặng lòng mặc cảm vì đã bỏ dở cuộc kháng chiến trở về thành. Những tưởng ở lại chỉ hai năm thôi, nước nhà thống nhất, gia đình lại đoàn tụ mà ông vẫn tỏ được lòng ngưỡng vọng với kháng chiến, với Cụ Hồ, lòng trung với nước. Nào ngờ tương lai ngày càng mờ mịt mà đời người thì ngắn qúa. Các con bốn đứa hai nơi bỗng thành đối nghịch trong khi ông với cái danh viên chức lưu dụng, hai con đứa gái đứa trai lớn lên với bản lý lịch chẳng mặn mà gì… Ngày con gái lấy chồng nghĩ mà thương. Gia đình mình đàng hoàng tử tế mà người ta xăm xoi rà đi soát lại! Thằng bé hiền lành mà quyết liệt. Con ông thề sẽ chẳng lấy ai… Hai đứa long đong lận đận lắm mới thành. Làm cha đã chẳng thể là chỗ dựa cho con thì bây giờ ông phải cố gồng thêm cái chức năng người mẹ cho các con đỡ tủi và ông bớt cảm thấy là mình vô vị.</p>
<p>Từ chiếc loa phóng thanh công cộng cỡ lớn treo tít trên cây, phát lên khúc đầu Lời di chúc của Hồ Chủ tịch: cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn. Và Người gửi gắm muôn vàn tình thân yêu cho đồng bào, đồng chí, các cụ phụ lão, các cháu thiếu niên, nhi đồng và bè bạn khắp năm Châu.</p>
<p>Ông chợt bật lên cái tên Huỳnh Anh Minh thật hợp với tên cha nó là Huỳnh Anh Dũng vì các con giao cho ông cả việc đi làm giấy khai sinh và đặt tên cho cháu. Không hiểu có là sự tình cờ ngẫu nhiên hay là còn ẩn ý nào mà chỉ mình ông biết.</p>
<p>Cuộc hòa đàm ở Paris gần hai năm rồi vẫn cù cưa. Lúc sinh thời, Cụ Hồ đã thấy trước rồi và Cụ căn dặn đoàn đi đàm phán: các chú sang Pháp lần này sướng hơn Bác sang Pháp hồi năm 1946 nhiều. ở nhà ta chiến thắng, thế giới càng hiểu ta và ủng hộ ta. Ngồi ở Paris mà tố cáo đế quốc Mỹ là sướng lắm! Nhưng phải luôn nhớ nhân dân Mỹ yêu chuộng hòa bình và công lý, Mỹ là nước lớn mà chịu ngồi lại đàm phán với ta là thất bại rồi, cho nên phải nói năng cho khôn khéo, tế nhị, không được làm mất mặt người ta thì mới đạt kết quả. Chiến tranh sẽ còn lâu dài, đàm phán phải kiên trì không được nôn nóng. Ta vừa đánh vừa mở cửa cho nó thoát nhưng ngoài cửa nhớ che rèm.</p>
<p>Và thế là cứ vừa đánh vừa đàm cho đến khi kẻ xâm lược nản lòng.</p>
<p>Năm 1972, người Mỹ muốn phủi tay thoát ra ngoài cuộc chiến, ký tắt một Hiệp định khung với Việt Nam dân chủ cộng hòa, coi như hòa bình đã trong tầm tay. Nhưng người bạn tình giăng gió cứ ương ngạnh khăng khăng bám lấy những lời chú Sam lỡ hẹn non thề biển mà làm mình làm mẩy. Không muốn bị mang tiếng là kẻ bội nghĩa bạc tình và làm oai với bàn dân thiên hạ, Nhà trắng quyết chơi canh bạc cuối cùng hòng buộc Hà Nội không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận theo ý họ. Trước khi rời hội nghị, Kissinger nói bắn tin với sài Gòn qua viên đại sứ của họ rằng : Tôi sắp làm một bi kịch đấy !</p>
<p>Từ năm 1962, khi Đội quân đánh giặc trời mới hình thành, Bác Hồ đã lưu ý vị tư lệnh : Chú đã biết gì về B52 chưa? Sau này, nhiều dịp Bác không quên nhắc lại điều đó và Người khẳng định : Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua!</p>
<p>Tuy nhiên thực lực của ta lúc đó so với đối phương qúa nhiều chênh lệch. Máy bay chiến đấu, ta có vài trung đoàn MIG-19 và 21, không thể so với các loại máy bay chiến đấu hiện đại của Mỹ, hơn hẳn về tốc độ và chức năng cường tập. Phi công của ta còn non trẻ, huấn nhiều, luyện ít, và kinh nghiệm chiến đấu chưa bao nhiêu, đặc biệt là đánh ban đêm. Sân bay nào cũng bị đánh phá, sửa chữa vội vàng, chất lượng kém, thậm chí có sân bay dã chiến được xây dựng vội vã, nền chỉ là đất nện. Máy bay lên xuống không có đèn hiệu, chỉ dựa vào mấy giải băng vải trắng lờ mờ trong đêm tối, giải ra vội vã rồi lại thu hồi ngay sau đó. Đánh B52 chủ yếu dựa vào tên lửa đất đối không SAM-II do Liên Xô viện trợ từ mấy năm trước đó, số tồn kho không nhiều, đa phần cận và qúa date. Dù các nhà khoa học của ta thông minh sáng tạo, chỉnh sửa cho nó gia tăng tuổi thọ nhưng vẫn phập phù. Điều quyết định cho tên lửa bắn trúng mục tiêu là hệ thống rada dẫn đường. Qua thực tiễn chiến đấu, bộ đội rada đã đúc kết thành bài học hữu hiệu, nhận ra nét đặc thù của B52 tàng hình trong màn sóng nhiễu. Dù trong khó khăn, ta đã sẵn sàng phương án chống kẻ địch dùng B52 không tập.</p>
<p>Trước sự tráo trở lật lọng bất ngờ của giới cầm quyền Mỹ, các nhà lãnh đạo ở Hà Nội tiên đoán một trận đánh phá tàn khốc bằng máy bay nhất định sẽ xảy ra ngay tại các thành phố lớn nhạy cảm như Hải Phòng và đặc biệt là thủ đô Hà Nội. Một mặt ra lệnh cho người già, phụ nữ, trẻ em, những người không có công việc cần ở lại, phải sơ tán triệt để ra khỏi thành phố. Một mặt chỉ thị cho Bộ đội phòng không – không quân sẵn sàng chiến đấu, quyết không để kẻ thù ngang nhiên tàn phá Thủ đô. Nhiều cán bộ dày dạn kinh nghiệm đánh máy bay được điều về từ các chiến trường và bằng những phương tiện sẵn có, với tinh thần xả thân vì nước và ý chí quyết tâm đánh gục B52 tại chỗ ngay từ trận đầu khi chúng liều lĩnh xâm phạm vào bầu trời Hà Nội thiêng liêng.</p>
<p>Siêu pháo đài bay khổng lồ B52 có chiều cao 12mét, dài 50mét, hai sải cánh 56mét, nặng 200 tấn, gắn tám động cơ phản lực cực khoẻ, hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết, ném bom thẳng đứng từ độ cao mắt thường không nhìn thấy được (mười đến hai mươi ngàn mét). Không bao giờ đánh đơn lẻ, thường bay thành tốp ba chiếc. Mỗi trận đánh ít nhất ba lượt tốp, có khi sáu lượt tốp hoặc nhiều hơn, sức hủy diệt cứ 2 kilômét vuông một tốp nhân lên. Đồng hành với nó còn có những tốp máy bay tiêm kích, cường kích F4 (Con ma), F105 (Thần sấm) và F111 (Cánh cụp xòe) đi theo bảo vệ.</p>
<p>Để tập trung vào trận đòn cuối cùng biến Hà Nội thành tử địa, lầu Năm Góc huy động 200 chiếc B52 – bằng một nửa tổng số máy bay chiến lược, toàn bộ máy bay chiến đấu ở Đông Nam á hơn 1000 chiếc – bằng một phần ba tổng số máy bay chiến thuật, tương đương tổng không lực của hai nước Anh và Tây Đức cộng lại và 6 trong số 24 tàu sân bay của Mỹ thả neo ở ngoài khơi vịnh Bắc Bộ.</p>
<p>20 giờ ngày 18 tháng 12 năm 1972, cuộc hành quân Linebecker II do Tổng Thống Mỹ hoạch định, bắt đầu. Hơn 100 máy bay B52 cùng với 300 máy bay chiến đấu tối tân các loại, đồng loạt tấn công hai thành phố lớn Hà Nội và Hải Phòng. Thủ đô rung chuyển trong những tiếng nổ khủng khiếp. Bầu trời đầy những tia chớp giật lóe sáng rực lên. Nhà cửa chao đảo ngả nghiêng như trong trận động đất lớn. Cả thành phố sáng bừng, đỏ ối, rần rật lửa như hỏa thiêu địa ngục. Cùng lúc, những làn lửa đỏ nhằng nhịt của súng phòng không các cỡ đan kín bầu trời, những hỏa tiễn SAM-II chói sáng rực lên như những con rồng lửa vun vút bay lên, nổ tung thành những cụm pháo hoa. Những đám lửa đỏ ngùn ngụt bung ra thành nhiều đám cháy lớn, nhỏ lả tả rơi xuống khắp bốn phương, tám hướng. Người Hà Nội không hề run sợ, hân hoan vui sướng reo ầm lên, chứng kiến kẻ thù bị trừng trị đích đáng ngay giữa bầu trời Thăng Long văn vật. Hai chiếc B52 bị hạ gục. Một chiếc rơi ngay xuống cánh đồng phía bắc Thủ đô. Chiến sỹ ta kiểm tra tại chỗ xác chiếc máy bay rách nát tả tơi, phát hiện một mảnh có tấm phù hiệu sặc sỡ vẽ biểu tượng một quả đấm thép, ba tia chớp, một cành nguyệt quế, cùng dòng chữ Stratagic Air Command (Bộ chỉ huy không quân chiến lược) và cạy ra một tấm nhãn kim loại nhỏ còn rõ chữ Aircraft Model B52G được mang về làm vật chứng trình lãnh đạo cấp cao.</p>
<p>Đêm 19 tháng 12, đài phát sóng Mễ Trì bị đánh trúng, tiếng nói Việt Nam ngừng phát thanh trong 9 phút, sau đó lại bình tĩnh vang lên, vạch trần tội ác của quân xâm lược và hân hoan thông báo tới đồng bào cả nước và nhân dân toàn thế giới: thêm ba chiếc B52 nữa bị tan xác trên bầu trời Thủ đô, phi công B52 bị bắt sống.</p>
<p>Liên tiếp đến ngày 23, đêm nào cũng xảy ra những trận chiến ác liệt không kém. Đặc biệt đêm 22 chúng bỏ bom đánh sập một phần bệnh viện Bạch Mai, làm chết nhiều người bệnh và thầy thuốc đang hành nghề nhân đạo. Tuy nhiên, trận nào quân và dân ta cũng hạ được nhiều máy bay các loại trong đó có B52 và bắt sống phi công.</p>
<p>Ngày 24, Hoa Kỳ tuyên bố ngừng tiến công 36 tiếng đồng hồ để đón Chúa giáng sinh và kêu gọi nhà cầm quyền Bắc Việt nên biết điều, hãy quay trở lại hội nghị Paris, làm theo ý Mỹ. Tổng hành dinh ở Hà Nội nhận định đây chỉ là hành động cuối cùng của kẻ vũ dũng ỷ vào sức mạnh hung tàn đòi thoả lòng tham. Nhất định chúng còn nỗ lực một lần nữa, sẽ quyết liệt hơn. Ta dồn sức chuẩn bị đối phó một trận quyết chiến tuy khốc liệt mà thắng lợi nắm chắc trong tay.</p>
<p>Trung tá phi công Huỳnh Anh Dũng được cử tới trại giam Hoả Lò khai thác những tên giặc lái vừa bị bắt. Ngồi trước mặt anh là một tên trung tá lái máy bay B52 vẻ phờ phạc, mặt chưa hết kinh hoàng. Chân trái y cứng đờ trong ống bột đăng cố định vì một cẳng chân bị gãy khi dù của y mắc vào một cành cây, rơi xuống đất. Phi công ta chỉ vào cái chân đau của y hỏi:</p>
<p>- Chân anh đau, liệu có đủ tỉnh táo nói chuyện với tôi không?</p>
<p>Nó làm dấu thánh, mắt nhìn xuống đất:</p>
<p>- Lạy Chúa lòng lành vô cùng. Tôi đã tưởng không chết vì cái chân này mà chết cháy vì những cơn giận nảy lửa tóe ra từ những đôi mắt của bao nhiêu người già, trẻ, gái, trai khi họ biết tôi là tù binh phi công Mỹ!</p>
<p>- Tôi cũng là phi công, nếu lái máy bay qua nước anh gây nên những tội ác như vậy liệu người Mỹ có tha thứ cho tôi không?</p>
<p>Y lại nhìn xuống, tay làm dấu thánh, miệng lầm bầm điều chi không rõ.</p>
<p>- Tôi chỉ hỏi anh mấy điều để cho anh có thời gian dưỡng sức. Máy bay của anh xuất phát từ đâu?</p>
<p>- Thưa ngài Trung tá! Từ căn cứ Anderson ở đảo Guam. Nhưng khi thi hành xong quân vụ có thể được lệnh hạ cánh ở Okinaoa hoặc Utapao.</p>
<p>- Người ta có nói cho anh biết vì sao phải dùng B52 đem bom dội xuống các thành phố và Thủ đô của chúng tôi không?</p>
<p>- Chúng tôi được chỉ thị rằng phải hỗ trợ cho việc làm của Tổng Thống Nixon. Cấp chỉ huy trực tiếp của chúng tôi nói đây là những phi vụ cực kỳ quan trọng.</p>
<p>- Anh đã thực hiện bao nhiêu phi vụ như thế này trên lãnh thổ Việt Nam?</p>
<p>- Gần mười phi vụ, kể từ phía nam ra tới Hải Phòng và lần đầu bay ra Hà Nội.</p>
<p>- Trên một máy bay B52, biên chế bao nhiêu nhân sự?</p>
<p>- Như trên chiếc B52G hiện nay có sáu người: Một phi công lái chính còn gọi là cơ trưởng; Một lái phụ lo kiểm tra động cơ bay; Một hoa tiêu theo dõi đường bay; Một sỹ quan điều khiển hệ thống máy tính tự động đảm bảo an toàn cho cả kíp bay – Người này quan trọng nhất, cấp bậc có khi hơn cơ trưởng; Một sỹ quan theo dõi hệ thống radar và bấm nút cắt bom khi có hiệu lệnh và một hạ sỹ quan điều khiển khẩu đại liên đề phòng cận chiến.</p>
<p>- Anh đã có bao nhiêu giờ lái máy bay rồi?</p>
<p>- Cho tới lúc bị bắn rơi là hơn 3000 giờ lái. Ngoài ra tôi còn lái hơn mười loại máy bay khác nữa.</p>
<p>- Mỗi lần nhấn nút có bao nhiêu trái bom rơi?</p>
<p>- Hai mươi bảy trái loại 750 bảng Anh, tương đương 340 kilôgam .</p>
<p>- Một phi cơ B52 mang được bao nhiêu trái bom như thế?</p>
<p>- Khoảng một trăm trái và có thể hơn!</p>
<p>- Có nghĩa là mỗi phi vụ anh bốn lần nhấn nút, dọc theo tuyến bay. Anh có nghĩ điều gì sẽ xảy ra sau đó?</p>
<p>Y lúng túng, trả lời ấp úng :</p>
<p>- Thật sự, tôi không biết nói sao. Tôi chỉ là người lính! Trong quân đội, chúng tôi được mang danh là sỹ quan quí tộc và tự hào mình làm chiến tranh sạch sẽ. Chúng tôi ngồi trong buồng lái đầy đủ tiện nghi, mãi trên cao hàng chục kilômét, không nhìn thấy gì hết ngoài khoảng không đầy mây trước mặt. Là người lái, tôi chỉ nhìn vào bảng điều hành độ cao, tốc độ theo sự dẫn đường của hoa tiêu nhìn trên bản đồ và sự điều khiển từ sở chỉ huy. Mỗi người một phận sự, làm việc như một cái máy theo các ký hiệu đèn xanh, vàng, đỏ và những sóng tần trên bảng chỉ dẫn. Mọi việc sau đó tuần tự thực hiện theo một hệ thống dây truyền. Khi trở về căn cứ, chúng tôi coi như trả xong món nợ. Ngày mai, khi giao ban, người ta chiếu lại trên màn hình, đánh giá công việc chúng tôi làm đã đạt yêu cầu hay chưa. Mọi sự đúng sai là do hệ thống máy móc tự động có chính xác hay không?</p>
<p>- Nghĩa là anh cũng không hề nghĩ tới có bao nhiêu nhà cửa, nhà thờ, nhà thương, trường học và bao nhiêu mạng người chết bởi việc mình làm?</p>
<p>Y tái mặt đi, lắp bắp :</p>
<p>- Chiến tranh… Chúng tôi phải làm theo lệnh của cấp trên!</p>
<p>- Anh đã thấy người Việt Nam nào mang vũ khí sang nước Mỹ giết hại chỉ một con vật chưa? Trong khi các anh tự hào nước Mỹ là tổ quốc của tự do và nhân quyền ?</p>
<p>Y run rẩy vì thấy người hỏi cung mình sẵng giọng và mặt đỏ lên. Trung tá phi công Huỳnh Anh Dũng nén lòng lại, cố giữ sự bình tĩnh:</p>
<p>- Ở khách sạn Hilton đặc biệt này, anh có gặp nhiều sỹ quan bè bạn của anh không?</p>
<p>- Tôi nghe người nào lúc mới tới đây cũng gọi là khách sạn Vỡ tim ! Thật là khủng khiếp. Lúc đầu, chúng tôi nghĩ như một cuộc dạo chơi. Vì xét về tương quan lực lượng, các ông không thể nào chạm tới đuôi máy bay chứ đừng nói tới chuyện uy hiếp được chúng tôi. Máy bay của các ông cổ lỗ, làm sao qua nổi nhiều tầng bảo vệ bởi các loại máy bay hiện đại nhất của chúng tôi để tiếp cận B52 được. Tên lửa đất đối không SAM-II, có thể với tới tầm xa 32 kilômét, nhưng theo tin tình báo của chúng tôi, mấy năm nay, đồng minh lớn của các ông đã giảm nhiều mức viện trợ các loại vũ khí chiến lược tối tân. Các quả tên lửa cũ kỹ lấy ra từ trong kho liệu có còn phát huy tác dụng? Đặc biệt, tên lửa như một thằng mù hung hãn. Con mắt của nó là hệ thống rada dẫn đường đã bị chúng tôi bịt kín rồi!</p>
<p>- Tên lửa đất đối không người Mỹ gọi là SAM-II, thực ra người Nga cho nó cái tên rất thơ mộng của dòng sông Đờvina, mang ký hiệu CA-75-M và khi đến Việt Nam nó thành Rồng Lửa! Chúng tôi biết, các anh có nhiều máy móc gây nhiễu xạ rất tinh vi, chẳng những đặt trên các máy bay EB-66 luôn đi kèm với B52, mà còn có hệ thống máy nhiễu xạ rất lớn phát ra từ những hạm tàu thường xuyên di chuyển ở ngoài khơi vùng biển của chúng tôi – Anh đưa tay chỉ vào đôi mắt của mình:… Có lẽ vì thế mà các anh chỉ đánh về đêm để bịt nốt những con mắt này? – Anh cười mỉa:… Và tin rằng hỏa tiễn của chúng tôi chẳng mấy nỗi sẽ không còn một trái!</p>
<p>- Hồi tháng tư, chúng tôi đánh vào Hải Phòng, Hà Nội, các ông bắn lên hàng trăm hoả tiễn SAM-II, cứ như đạn tiểu liên bắn lên trời mà có chạm vào đuôi hay cánh một chiếc B52 nào của chúng tôi đâu. ở Câu lạc bộ sỹ quan căn cứ không quân, trong khi các phi công lái máy bay chiến đấu tỏ ra lo lắng, bi quan, luôn miệng cầu Chúa ban phúc lành thì cánh phi công chiến lược chúng tôi vui vẻ bảo nhau : B52 có thể đi đánh bất kỳ đâu ở Việt Nam mà không hề sợ tróc sơn!</p>
<p>Trung tá phi công Huỳnh Anh Dũng cười mai mỉa :</p>
<p>- Chỉ một tuần nay đã có gần 20 B52 của các anh bị tên lửa của chúng tôi bắn hạ… Nhìn thấy các bạn của anh đang ở đây là có thể tin những điều tôi nói không sai. Trong khi lầu Năm Góc đã tính chúng tôi không đủ sức chịu được qúa ba ngày!</p>
<p>- Xin lỗi! Hay là người Nga bí mật sang đây, mang theo những loại vũ khí mới tối tân hơn?</p>
<p>- Chúng tôi rất cần sự giúp đỡ của tất cả bạn bè, những người yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới, ngay cả những người Mỹ chính trực và lương thiện. Nhưng chúng tôi tự bảo vệ tổ quốc của mình. Các anh không thắng được chúng tôi vì đi gây chiến mà không hiểu đối phương thì làm sao thắng được!</p>
<p>- Các ông thật đáng kính phục. Trước đây, chúng tôi nghĩ các ông giỏi lắm cũng chỉ tới mức sử dụng được các loại súng bộ binh, tới mấy khẩu cao xạ thông thường. Không ngờ các ông nhanh chóng làm chủ các phương tiện chiến tranh hiện đại, đấu trí, đấu sức làm cho các tướng lĩnh nổi danh của chúng tôi thất vọng.</p>
<p>- Về các phương tiện chiến tranh, còn lâu chúng tôi mới theo kịp các anh. Nhưng chúng tôi chiến đấu trên bầu trời của tổ quốc chúng tôi, chúng tôi có trí thông minh, lòng dũng cảm của một dân tộc quyết tâm bảo vệ tổ quốc của mình. Anh nghĩ sau nghỉ lễ giáng sinh, bộ chỉ huy hành quân Linebecker II có giở thêm trò gì mới nữa không?</p>
<p>Y cúi đầu buồn bã :</p>
<p>- Thường thì người Mỹ chúng tôi chỉ khi nào thất bại rồi mới bắt đầu suy nghĩ về việc mình làm đúng hay sai, nên hay không nên. Họ vẫn còn tin vào sức mạnh Mỹ. Họ từng ra lệnh cho chúng tôi ném bom tới mức bão hòa. Tuy nhiên họ sẽ tập trung đánh mạnh hơn và có thể cùng lúc đánh ra diện rộng để phân tán hỏa lực của các ông. Dù rằng ông Nixon từng nghĩ tới việc dùng bom nguyên tử ở Việt Nam nhưng tôi nghĩ lúc này chưa dám đâu. Song ông Diều hâu ấy đã nói thẳng ra rằng: Chúng ta sẽ không chịu vừa rút quân vừa khóc thầm. Phải cho nổ tan tành quân khốn kiếp – Tôi xin lỗi, đấy là nguyên lời của ông ta! Điều họ có thể làm được là cải tiến kỹ thuật để vô hiệu hóa hệ thống rada. Nhưng thưa ngài trung tá… Như thế có nghĩa là chiến tranh chưa thể kết thúc? Và chúng tôi phải ở đây mãi cho đến ngày về chầu Chúa!</p>
<p>Trung tá Dũng gay gắt:</p>
<p>- Các anh không phải là tù binh vì các anh vô cớ mang bom dội lên đầu tàn sát nhân dân tôi. Người Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh diệt chủng, hủy diệt cả môi trường, môi sinh… Các anh là tội phạm chiến tranh và đã bị Toà án Bectrand Russel tuyen án trước toàn thế giới! Tuy nhiên, ở đây, các anh vẫn được đối sử theo truyền thống hòa hiếu của dân tộc chúng tôi. Còn việc phải ngồi tù bao lâu nữa là tùy  thuộc hoàn toàn vào chính phủ của các anh có muốn hòa bình, tôn trọng quyền độc lập, tự quyết của người Việt Nam chúng tôi không.</p>
<p>Anh đứng dậy, đưa cho y một điếu thuốc, y sung sướng, cảm ơn rối rít. Anh thương hại, thấy phải giải thích cho y rõ :</p>
<p>- Chiến tranh liên miên làm cho đất nước chúng tôi nghèo lắm. Trong khi nhân dân chúng tôi còn thiếu ăn, những người lính của chúng tôi cũng chỉ được những khẩu phần hạn chế mà mỗi tù binh các anh được Nhà nước chúng tôi chi cho tiền ăn một ngày gấp đôi lương bình quân một ngày của sỹ quan cấp như tôi. Tiêu chuẩn đường sữa bồi dưỡng sức chiến đấu của tôi cũng như của vợ tôi dạy học, phần lớn dành cho thằng con trai bốn tuổi của chúng tôi!</p>
<p>Y ngước nhìn người sỹ quan đối phương bằng đôi mắt thật buồn và biết ơn:</p>
<p>- Cám ơn ngài Trung tá! Tôi cho rằng lịch sử đứng về phía các ông, đạo lý thuộc về các ông. Trong số sỹ quan của chúng tôi cũng có người nhận ra điều đó và họ đã phản chiến. Trong lòng tôi cảm phục và hoan nghênh nhưng không đủ can đảm làm như thế. Các ông sẽ thắng và thực tế các ông đã thắng.</p>
<p>Anh vừa quay đi, nhìn quanh không thấy có ai, y bước sát tới anh hỏi nhỏ:</p>
<p>- Thưa ngài Trung tá! Địa điểm trại giam này có được giữ bí mật không?</p>
<p>Anh trừng mắt nhìn y, nghiêm nghị :</p>
<p>- Chúng tôi nhất định bảo vệ được trái tim của tổ quốc mình. Từ đây, đã nhiều lần chúng tôi cho hàng đoàn tù binh Mỹ đi diễu trên các đường phố Thủ đô hoặc làm một số việc lao động công ích để cho họ thấy nhân dân chúng tôi phải kìm nén sự căm phẫn và giữ lòng nhân đạo đến mức độ nào. Nhiều nhà báo, kể cả người nước ngoài cũng được vào đây gặp gỡ và phỏng vấn tù binh Mỹ. Chúng tôi đã dự liệu khả năng hoặc là người Mỹ sẽ hủy diệt để phi tang như đã từng làm trên chiến trường, hoặc là họ sẽ tái diễn một trận không tập giải cứu tù binh như đã từng làm mấy năm trước ở Sơn Tây nhưng thất bại. Tình huống nào chúng tôi cũng có phương án đối phó chủ động cả rồi.</p>
<p>Anh giận dữ bước đi thật nhanh trong khi viên phi công tù binh mặt tái xanh, run rẩy làm dấu thánh và đứng ngẩn ngơ như kẻ mất hồn.</p>
<p>Trên đường về đơn vị, phi công Huỳnh Anh Dũng bảo anh lái xe vòng qua nơi sơ tán thăm vợ và con. Nghe có anh phi công chồng cô giáo Cẩm Nhung về đây, các thầy, cô giáo, học trò và bà con làng xóm kéo đến chật nhà, đầy sân ra đến ngõ để tận mắt được nhìn người nhà trời, người anh hùng có nhiều kỳ tích bắn rơi mấy máy bay Mỹ. Thằng cu  con nhìn cha như người lạ, cứ nép vào lòng mẹ. Cha nó thỉnh thoảng liếc nhìn con vì phải vui vẻ trả lời đủ loại câu hỏi của các cô gái, chàng trai, em nhỏ, vừa tò mò vừa thán phục. Một cụ già lo lắng hỏi:</p>
<p>- Nó đánh Hà Nội, Hải Phòng rồi có đánh rộng ra nữa hay không?</p>
<p>- Bác Hồ biết trước rồi và đã căn dặn chúng tôi: Nhớ là trước khi thua ở Triều Tiên, đế quốc Mỹ đã hủy diệt Bình Nhưỡng. ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội!&#8230; Với đà B52 rơi rụng thế này thì nó lấy ở đâu ra nữa để đánh rộng ra cả nước mình?</p>
<p>Lời nói quả quyết tự tin của người phi công lại được xác minh bằng lời tiên đoán của Bác Hồ, mang đến niềm tin và phấn khởi cho mọi người.</p>
<p>Bà chủ nhà te te bưng lên cái mâm gỗ bày lù lù hai đĩa sôi lạc to tướng và hai quả trứng ngan, vừa đặt lên cái phản giữa nhà vừa nói bâng quơ:</p>
<p>- Chẳng ai có ý tứ gì. Người ta đi đường xa về thì đói, lại chẳng có bao lâu thì giờ tâm tình với con, với vợ mà ai cũng tíu ta tíu tít thì chẳng còn có tí gì gọi là tâm lý cả. Tôi đề nghị mọi người giải tán để có chút cây nhà lá vườn bồi dưỡng các anh bộ đội giữ yên bầu trời cho các cháu học sinh yên vui học tập và bà con làng xóm mình thi đua tăng gia sản xuất…</p>
<p>Lời nói của bà chủ nhà thật có uy. Chỉ một loáng, căn nhà trở nên rộng mênh mông. Mấy mẹ con bà chủ nhà cũng dắt anh lái xe bê đĩa xôi qua nhà hàng xóm. Cẩm Nhung giao con cho chồng. Cha nó rúc đầu vào bụng thằng bé, dụi dụi, làm nó bật cười ré lên. Anh đặt con lên vai, đung đưa chạy quanh nhà làm cho thằng bé khoái chí cười như nắc nẻ. Một thoáng hạnh phúc đơn sơ bao trùm lên khuôn mặt người phụ nữ. Cha nó khen:</p>
<p>- Thằng này lớn lên làm phi công được đây!</p>
<p>- Đừng con ạ! Lúc ấy già rồi mà cứ nơm nớp lo chắc mẹ chết sớm qúa.</p>
<p>- Ô! Lúc đó nó phải lái máy bay hàng không dân dụng đưa mẹ vào ra Sài Gòn – Hà Nội như đi chợ rồi lại đi vòng quanh khắp thế giới chu du thiên hạ xem có mê ly không nào?</p>
<p>- Phi công lái máy bay lớn phải cao, to chớ dài1mét 68, nặng 55 kilô như cha nó, không còn ai người ta mới tuyển!</p>
<p>Anh cười khà khà, chuyển thằng cu xuống bồng xốc trên vai:</p>
<p>- Đến lúc ấy hòa bình là con mình no đủ rồi. Không như cha nó, thời học sinh lúc nào cũng đói dài. Phải nịnh mấy chị cấp dưỡng xin thêm miếng cháy. Lỡ bị lộ ra, hai chị em đều bị phê bình là xâm phạm vào xuất ăn của con heo!</p>
<p>Anh ôm con nựng trong lòng, âu yếm nhìn vợ, rên rỉ ngâm nga :</p>
<p>- Chứ đâu có như mẹ Cẩm Nhung bây giờ… Lấy chồng thời chiến chinh, mấy người đi… biền biệt… Nhỡ khi mình… chậm về thì thương người vợ… này này – Anh hôn vào má vợ bật lên một tiếng thật to.</p>
<p>Cẩm Nhung vỗ yêu vào má chồng :</p>
<p>- Thiếu gì thơ hay mà đi xuyên tạc thơ của người ta là yếu… văn lắm đấy nhé!</p>
<p>Thằng bé nằm yên giữa lòng cha mẹ trong khi hai vòng tay người lớn choàng ôm chặt lấy nhau như không muốn rời ra. Đấy là giây phút hạnh phúc ngây ngất hiếm hoi với cả hai người.</p>
<p>Hết 36 giờ nghỉ lễ, đêm 26 tháng 12, lầu Năm Góc tập trung lực lượng lớn, ra đòn quyết định. Ngoài việc tăng thêm công xuất gây nhiễu từ các máy đặt trên hạm tàu đậu sát ngoài khơi và thêm số máy bay EB-66 gây nhiễu, không lực Hoa Kỳ còn cho máy bay F4 thả dày đặc những sợi kim loại dọc theo đường bay của B52, nhằm tạo mục tiêu giả và gây kích thích ngòi nổ vô tuyến, làm cho tên lửa phát nổ trước khi gặp mục tiêu. Hàng trăm máy bay B52 và các loại máy bay chiến thuật với mật độ dày đặc, chớp nhoáng trong 15 phút, cùng lúc tấn công cường tập ba mục tiêu Thái Nguyên, Hải Phòng và đặc biệt là Hà Nội, hy vọng đánh gục đối phương trong thời gian cực ngắn. Hàng trăm điểm dân cư bị tàn phá trong đó nặng nề nhất cả phố cổ Khâm Thiên biến thành đống đổ nát nghi ngút lửa khói, làm chết hàng ngàn thường dân vô tội. Hà Nội chẳng những không sụp đổ, trái lại số máy bay Mỹ lại bị hạ gục nhiều hơn: tám chiếc B52 cùng số phi công Mỹ chết tan xác và bị bắt cũng nhiều hơn.</p>
<p>Phi công Huỳnh Anh Dũng phát biểu trước tập thể:</p>
<p>- Nó không lỳ mãi được đâu. Đừng để nó coi thường MIG không thể chạm tới B52 được. Đây là dịp cuối cùng, để lỡ thì uổng qúa!</p>
<p>Phi công, ai cũng sôi lên muốn được một phen cho con mẹ phù thủy kiêu ngạo ấy biết tay. Vũ Xuân Thiều nắm tay Huỳnh Anh Dũng giơ lên :</p>
<p>- Xin cho chúng tôi được tiêu diệt nó!</p>
<p>Cấp chỉ huy nhìn những chiến sỹ từng qua nhiều thử thách, được tuyển chọn vào đội đánh đêm, gửi lòng tin tưởng :</p>
<p>- Đêm nào chúng ta cũng phục kích nhưng con cáo già này gian manh lắm, nên chưa hiệu quả. Lần này ta bố trí đón lõng cả hướng bắc, nam, tạo thế bất ngờ. Phát hiện địch phải nắm thắt lưng nó mà đánh cho bằng được. Hy vọng một chàng trai Hà Nội với một chàng trai Sài Gòn sẽ làm nên chuyện.</p>
<p>Hai người biết nhau từ những ngày mới học lái máy bay bên nước bạn, lại càng hiểu nhau trong chiến đấu, nắm chặt tay nhau, thầm nghĩ rằng bảo vệ bầu trời Thủ đô cũng là bảo vệ những người thân yêu ruột thịt của mình. Hai anh lập tức lên đường vào Thanh mật phục vì địch chủ quan nghĩ rằng sân bay trong đó đã bị phá hủy, không thể phục hồi ngay được.</p>
<p>Đêm 27 tháng 12, Hà Nội hạ bốn chiếc B52 nữa, có chiếc rơi ngay xuống làng hoa Ngọc Hà, không xa nhà của Vũ Xuân Thiều. Đặc biệt phi công Phạm Tuân bí mật xuất kích từ một sân bay dã chiến ở Yên Bái, lái chiếc MIG-21 tiếp cận mụ phù thủy quen ỷ vào bùa phép lạ, đốn gục một B52 nữa ngay trên bầu trời cửa ngõ Hòa Bình và trở về đất mẹ an toàn.</p>
<p>Nghe tin ấy, quyết tâm của hai chiến sỹ phi công càng được vững tin.</p>
<p>Tinh mơ sáng ngày 28, đúng theo hợp đồng chiến đấu, từ sân bay Cẩm Thủy, máy bay của Huỳnh Anh Dũng xuất phát trước, cố tình sớm để lộ mình, làm chim mồi khiêu khích nhử bày máy bay chiến thuật tầm thấp phát hiện và lao theo cánh chim đơn độc. Anh nhận việc làm nguy hiểm để đồng đội Vũ Xuân Thiều thừa cơ cho máy bay xuất kích, ẩn mình vượt lên tầm cao. Chiếc B52 nhấp nhánh đèn như đi dạo chơi hướng vào bầu trời Hà Nội. Khi phát hiện ra đang bị đối phương truy kích thì cự ly đã qúa gần rồi. Không kịp nhả bom, nó thả vội ra hai quả tên lửa lạc hướng. Đúng lúc Vũ Xuân Thiều nhấn cả hai quả tên lửa của mình phóng vụt ra. Tên lửa đụng tên lửa nổ tung. Chiếc B52 chỉ bị thương, chòng chành, lảo đảo tìm cách thoát thân. Thiều nhìn rõ mấy tên giặc trong buồng lái ôm đầu co rúm lại. Cùng lúc máy bay của Huỳnh Anh Dũng bị thương. Sở chỉ huy ra lệnh cho anh nhảy dù ra. Anh điện gọi bạn cho chim về tổ. Chỉ nghe tiếng trả lời vội vã:</p>
<p>- B52 bị thương! Hết đạn! Rất gần! Quyết không cho nó thoát !</p>
<p>Huỳnh Anh Dũng nhận ra một tiếng nổ vang rền cùng khối lửa lớn bùng lên phía trên bầu trời Sơn La đang bừng bừng rơi xuống. Anh chỉ kịp thốt lên trong máy:</p>
<p>- Đồng chí Vũ Xuân Thiều!</p>
<p>Máy bay anh lao vun vút không điều khiển được đúng ngay trên bầu trời thành phố. Anh không thể nhảy ra để chiếc máy bay rơi tự do xuống những mái nhà còn sót lại giữa đống đổ nát dưới kia. Anh cố chỉnh tay lái, nán lại cho máy bay qua được chỗ này. Khi máy bay tới độ thấp nhất, anh định bấm nút nhảy ra, chợt giật mình nhận ra chiếc máy bay đang lao thẳng xuống một đám đông nháo nhào lố nhố. Hình như là trường học! Anh nghiến răng, hết sức kéo cần cho máy bay chếch đầu lên một chút. Anh không kịp nhảy ra khi chiếc máy bay sượt qua mái trường và rơi ngay gần đó.</p>
<p>Tại Sở chỉ huy chỉ nghe được tiếng thét thất thanh và tiếp ngay là một tiếng nổ Bùng!</p>
<p>Trên chiếc xe com măng ca của đơn vị về đón Cẩm Nhung, anh cán bộ trợ lý chính trị cầm tờ báo Quân đội nhân dân, đọc to lên dòng tít và những hàng chữ lớn ở trang đầu: Sáng ngày 30 tháng 12, theo giờ Hà Nội. Trong tâm trạng thất vọng và cay đắng, Tổng Thống Mỹ đã phải ra lệnh ngừng oanh kích vào các thành phố lớn ở miền Bắc Việt Nam và kêu gọi nối lại cuộc hòa đàm ở Paris vào ngày 8 tháng 1 năm 1973 : Sau 12 ngày đêm điên cuồng không tập, Hoa Kỳ đã mất 81 chiếc máy bay hiện đại, trong đó có 34 chiếc máy bay chiến lược B52, bằng 17% số máy bay tham chiến, gần 10% tổng số máy bay chiến lược hiện có và 5 chiếc máy bay chiến đấu cánh cụp cánh xòe F111A, hiện đại nhất của không lực Mỹ. Tổn thất lớn nhất của Mỹ là nhiều phi công bị chết và bị bắt sống đang phẫn nộ và chán chường ngồi trong các nhà tù của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đợi ngày phóng thích. Đế quốc Mỹ đã thua trên bầu trời Hà Nội. Lịch sử giữ nước Việt Nam lại ghi nhận một trận Điện Biên Phủ trên không. Nó chứng minh tinh thần yêu nước Việt Nam là bất diệt và khẳng định niềm tin của Bác Hồ kính yêu trước lúc Người đi xa.</p>
<p>Thằng bé Huỳnh Anh Minh vô tư giật lấy tờ báo cũng giơ lên ra vẻ đọc trong khi mẹ nó như người mộng du, không biết chuyện gì sẽ xảy ra và trong lòng chị linh cảm điều lành thì ít, điều dữ thì nhiều.</p>
<p>Cẩm Nhung lao vào Phòng cấp cứu Viện quân Y 108. Một khối băng trắng nằm bất động. Dù không nhận dạng nhưng không ai khác nữa ngoài chồng chị. Chị ôm choàng lấy người chồng thân yêu, khóc oà lên:</p>
<p>- Anh ơi! Em và con đến đây rồi! Anh có nhận ra không?</p>
<p>Trong cõi âm u mù mịt, văng vẳng tiếng gọi mơ hồ, anh cảm thấy như có ai lôi dần mình lên từ đáy cái hố đen thăm thẳm. Lại có tiếng trẻ con lanh lảnh như điệu nhạc quen thuộc êm ấm thân thương :</p>
<p>- Mẹ ơi!… Ba… Ba đâu?</p>
<p>Anh lờ mờ thấy trước mắt hiện ra một mái trường với những đứa trẻ thơ đang mừng vui ríu rít giơ tay lên vẫy vẫy. Chắc là học trò của vợ anh. Anh nhớ rõ chiếc máy bay của anh như con chim khổng lồ gãy cánh lao vun vút xuống chùm lên bầy trẻ. Như có điều gì linh thiêng thức tỉnh. Bàn tay anh động đậy, quơ quơ. Môi anh mấp máy bật ra theo hơi thở yếu ớt :</p>
<p>- Các cháu… học sinh… có… sao… không?</p>
<p>Cẩm Nhung không biết điều gì đã xảy ra với chồng mình. Chị kéo bàn tay con áp vào tay cha nó và nâng cả hai bàn tay ấy lên ấp vào mặt mình. Anh cán bộ trợ lý chính trị hiểu ra sự việc, ghé sát vào tai đồng đội nói thật to lên :</p>
<p>- An toàn! Bình yên! Đồng chí tỉnh dậy đi… nhìn chiến thắng!</p>
<p>Tiếng người gần xa văng vẳng không rõ nhưng dường như báo hiệu một tin vui. Trước mặt anh, ánh sáng bừng lên. Trên lơ lửng bầu trời, ngọn lửa chói chang long lanh ánh hào quang muôn sắc. Bạn anh – Vũ Xuân Thiều hiện ra, tươi cười dang đôi cánh rộng, bay xuống thật gần. Hơi ấm từ ngọn lửa ấy làm người anh càng nóng ran lên. Anh cố giơ tay lên và cảm thấy như tay mình đã nằm trong tay bạn… Anh rướn người lên… ngưng thở… trút đi cái bóng đen nặng nề, đớn đau, trì níu. Thân mình anh nhẹ hẫng như một tia sáng vút bay  lên… để lại trên đôi môi khô rộp một bông hoa tươi rói.</p>
<p>Bàn tay anh như không đỡ nổi những giọt nước mắt của người vợ thân yêu nữa, rời ra. Cẩm Nhung thảng thốt nhìn lên nét mặt chồng đen cháy vô hồn. Chị ôm lấy anh, lay động gào lên :</p>
<p>- Anh Dũng ơi… Anh Dũng ơi ! Đừng bỏ em… Đừng bỏ con&#8230; Anh Dũng !</p>
<p>Chuyến bay đầu ngày của hãng Hàng không Việt Nam cất cánh rời sân bay Thủ đô vào một ngày cuối năm. Chiếc BOEING khổng lồ nhấc mình khỏi đường băng vút lên không trung. Vào thời điểm ấy, mọi người ngồi trong khoang máy bay đều tập trung cho sự thích nghi khi từ mặt đất mới thoát lên bầu trời và theo dõi sự ổn định của đường bay. Bỗng dưng chiếc máy bay nghiêng mình và dường như vòng lại. Những người quen với đường bay tỏ ra ngạc nhiên và lo lắng. Từ dãy ghế VIP có ba người đứng dậy quay về phía hành khách. Đứng giữa là một bà lớn tuổi, tóc hoa râm, mặc toàn đồ đen, nét mặt phúc hậu man mác buồn. Cô nữ tiếp viên trẻ đẹp, mặc bộ áo dài màu cánh sen, đồng phục của ngành hàng không. Anh phi công to lớn, mặc lễ phục trắng muốt, ngực đỏ những tấm huân chương, nét mặt trang nghiêm, giọng chậm rãi, rõ ràng:</p>
<p>- Thưa đồng bào và qúi vị. Vào khoảng giờ này, tại khoảng trời này, cách đây đúng 25 năm, một phi công anh hùng đã hy sinh để bảo về bầu trời thủ đô thiêng liêng của tổ quốc chúng ta. Kẻ thù ỷ vào sức mạnh của các phương tiện và vũ khí tối tân hòng làm tê liệt tinh thần chiến đấu của người Việt Nam bảo vệ tổ quốc của mình. Một biên đội MIG – 19 bất ngờ xuất kích từ một sân bay dã chiến bí mật ở miền Trung. Trung tá phi công Huỳnh Anh Dũng bay trước, tự lộ mình ra lừa địch, làm mục tiêu cho lũ máy bay tiêm kích truy đuổi, để cho đồng đội thừa cơ địch sơ hở, bay vọt lên, lao thẳng vào tiêu diệt chiếc máy bay chiến lược B52 trên bầu trời Yên Bái. Khi nhiệm vụ hoàn thành, máy bay bị trúng đạn, đồng chí Huỳnh Anh Dũng được phép nhảy dù ra. Nhưng chiếc máy bay mất đà đang lao thẳng vào một trường học. Đồng chí kịp nhận ra, kéo ghì cần lái cho chiếc máy bay chếch lên, vượt tầm lướt xa ra. Phi công không còn thời gian nhảy khỏi buồng lái nữa! Một lúc, đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ hợp đồng chiến đấu tiêu diệt giặc và bảo vệ tính mạng của đồng bào. Sự hy sinh cao cả của các đồng chí là tiếp nối truyền thống vẻ vang của Anh bộ đội Cụ Hồ, mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ tiếp theo – Nét mặt trang nghiêm, anh trân trọng nâng tay bà mẹ:… Đây là nhà giáo Nguyễn thị Cẩm Nhung, người bạn đời của phi công liệt sỹ anh hùng – Vẻ mặt tươi lên, tay hướng về buồng lái:… Và người đang điều khiển chiếc máy bay của chúng ta lúc này là phi công Huỳnh Anh Minh, chính là con trai duy nhất của phi công Huỳnh Anh Dũng và mẹ đây.</p>
<p>Chiếc máy bay chao cánh như muốn gửi lời chào cả mọi người trên trời, dưới đất. Cô tiếp viên nâng bó hồng lớn tặng mẹ. Anh phi công giúp bà gieo ra khoảng không những cánh hoa tươi đỏ chói trong tiếng nhạc tưởng vong hồn nghĩa sỹ. Bà quả phụ cứ để cho những hàng nước mắt tuôn rơi, nói trong nghẹn ngào:</p>
<p>- Xin cảm ơn những ai còn nhớ đến những người như chồng tôi. Tôi đau khổ nhưng không ân hận. Anh ấy đã hy sinh cho tổ quốc Việt Nam thống nhất, hòa bình, cho tương lai hạnh phúc của trẻ thơ và cho sự no ấm yên vui của những người lương thiện.</p>
<p>Những cánh hoa Ngọc Hà tươi đỏ chơi vơi biến ngay vào trong nắng giữa những đám mây trùng điệp tìm đến hồn thiêng nơi vũ trụ bao la.</p>
<p>Cô gái ngả đầu vào vai bà se sẽ hát khúc dân ca tặng mẹ :</p>
<p>Anh đi xa càng xa</p>
<p>Tình em như cỏ hoa</p>
<p>Lưu luyến và nhớ thương</p>
<p>Theo anh dài nương rẫy</p>
<p>Anh đi biệt tháng ngày</p>
<p>Tình em như sông dài…</p>
<p>{</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/vanhacyb.wordpress.com/5890/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/vanhacyb.wordpress.com/5890/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/vanhacyb.wordpress.com/5890/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/vanhacyb.wordpress.com/5890/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/vanhacyb.wordpress.com/5890/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/vanhacyb.wordpress.com/5890/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/vanhacyb.wordpress.com/5890/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/vanhacyb.wordpress.com/5890/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/vanhacyb.wordpress.com/5890/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/vanhacyb.wordpress.com/5890/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/vanhacyb.wordpress.com/5890/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/vanhacyb.wordpress.com/5890/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/vanhacyb.wordpress.com/5890/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/vanhacyb.wordpress.com/5890/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vanhacyb.wordpress.com&amp;blog=7020745&amp;post=5890&amp;subd=vanhacyb&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/14/hoa-ngoc-ha/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/8e6815571642b8969077094b7f6e6713?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">tranvanhac</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Phong thủy Thăng Long- Hà Nội</title>
		<link>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/13/phong-thuy-thang-long-ha-noi/</link>
		<comments>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/13/phong-thuy-thang-long-ha-noi/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 13 Mar 2010 14:58:58 +0000</pubDate>
		<dc:creator>tranvanhac</dc:creator>
				<category><![CDATA[Vui buồn, Suy ngẫm]]></category>
		<category><![CDATA[phong thuy]]></category>
		<category><![CDATA[thang long]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vanhac.org/?p=5884</guid>
		<description><![CDATA[Mai Thục Phong thủy là một bộ môn văn hóa cảnh quan đặc thù của Trung Quốc. Là quan niệm của người Trung Hoa với môi trường sống. Là học vấn về lựa chọn nơi con người ở. Các tư tưởng triết học truyền thống của Trung Quốc như: khí luận, âm dương ngũ hành, [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vanhacyb.wordpress.com&amp;blog=7020745&amp;post=5884&amp;subd=vanhacyb&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Mai Thục</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Phong thủy là một bộ môn văn hóa cảnh quan đặc thù của Trung Quốc. Là quan niệm của người Trung Hoa với môi trường sống. Là học vấn về lựa chọn nơi con người ở. Các tư tưởng triết học truyền thống của Trung Quốc như: khí luận, âm dương ngũ hành, bát quái, thiên địa nhân hợp nhất là nguyên khối sinh ra phong thủy. Phong thủy chẳng những ảnh hưởng lớn đối với cư dân Thủ đô, thành phố, làng mạc, mà còn có quan hệ sâu sắc với luân lý Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo.<span id="more-5884"></span></p>
<p>Tiền đề triết học sản sinh ra phong thủy- “Đất là mẹ”. Khí luận trở thành cột trụ lý luận của sự hình thành phong thủy “Thiên địa hợp khí… vạn vật tính trí”. Đất phong thủy là nơi “Tập trung của tinh, tích tụ của khí”. Là những khu đất có hình thế “tàng phong”, “tụ khí”, cảnh quan núi cao phát mạch, nhấp nhô uốn lượn, lớp lớp điệp trùng, rừng núi đẹp, núi ôm nước bọc… Tạo ra “Linh khí của trời đất”, “Cảm ứng linh quang của nhật nguyệt”, “Nảy sinh nội khí, ngoại khí hình thành”, “Địa linh nhân kiệt”, “Thành được sơn thủy thì linh”…</p>
<p>Việc chọn phong thủy làm Thủ đô cực kỳ quan trọng. Hơn ba nghìn năm trước, các vua chúa Trung Hoa đã biết dựa vào thuật phong thủy để tìm kiếm những vùng đất tốt đẹp cho việc đóng đô lập quốc. Điều này giải thích một trong những lý do tại sao các triều đại Trung Hoa tồn tại lâu dài, dù phải trải nhiều thăng trầm. Và nền văn minh cổ của họ vẫn duy trì tiếp tục phát triển cho đến bây giờ, không bị lụi tàn như Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, Mông Cổ, Ả Rập…</p>
<p>Kỹ sư Dương Văn Dũng, chuyên gia nghiên cứu các chất khoáng trong lòng đất, ứng dụng xử lý nguồn nước bị ô nhiễm, còn là người biết nhìn sâu vào thế núi thế sông Hà Nội và có bài nghiên cứu tựa đề “Địa thế phong thủy của Hà Nội- Huế- Sài Gòn và vận mệnh của dân tộc Việt Nam”.</p>
<p>Dương Văn Dũng vận dụng lý thuyết Lạc Thư và Tam Nguyên- Cửu Vận để tìm ra lời đáp về vượng khí núi sông từng thời kỳ của ba thành phố Hà Nội- Huế- Sài Gòn.</p>
<p>Bài viết này chúng tôi tinh cất những nét cơ bản của tác giả Dương Văn Dũng, giúp bạn đọc có cái nhìn về một Hà Nội sông núi linh thiêng, hùng vĩ, để cùng nhau giữ gìn bảo vệ núi sông Hà Nội trường tồn cùng vận mệnh dân tộc.</p>
<p>Phong thủy Hà Nội được nhìn trực tiếp ngay từ bản đồ Thăng Long- Hà Nội. Là thành phố nằm gần như ở trung tâm đồng bằng Bắc bộ, trên dải đất hẹp giữa con sông Hồng phía Đông và sông Tô Lịch phía Tây. Đối với phong thủy, mảnh đất này chính là chân long. Là nơi kết tụ được nhiều nguyên khí của địa hình sông núi vây quanh. Thăng Long- Hà Nội có rất nhiều hồ ao để “dưỡng khí” và “tụ tài”. Địa hình Thăng Long- Hà Nội vững chãi, lưng dựa vào dãy núi Tản Viên- Ba Vì, trước mặt là dòng sông Nhĩ Hà chảy trôi, trong lòng thành phố, sông Tô Lịch chuyển động êm đềm. Thăng Long- Hà Nội xứng là “Thành phố sơn thủy” có đầy đủ những đặc điểm phong thủy điển hình.</p>
<p>Nhờ vậy, Hà Nội luôn nắm được những vai trò quan trọng về chính trị và kinh tế đối với đất nước. Trong thời kỳ hưng thịnh còn sản sinh ra những lãnh tụ tài ba, những anh hùng kiệt xuất. Nếu nhìn lên bản đồ miền Bắc, ta thấy những con sông lớn như: sông Cầu, sông Gầm, sông Lô phía Bắc, sông Đà phía Tây chảy dài khắp nơi, cuối cùng đều nhập vào sông Nhị Hà chảy về Hà Nội. Xa xa, dọc biên giới Việt- Hoa, những dãy núi trùng trùng điệp điệp xuất phát từ miền Nam Trung Hoa đâm thẳng xuống dọc theo các phía Tây Bắc, Bắc và Đông Bắc, tất cả đều như muốn hướng về. Đây chính là thế “núi sông chầu phục” của Thăng Long- Hà Nội. Một địa thế phong thủy tuyệt đẹp đến nỗi không một Thủ đô nào của các nước trong vùng Đông Nam Á có thể so sánh được. Không những thế, ngoài xa nơi phía Đông và Đông Nam Á, Hà Nội còn được đại thủy của vịnh Bắc Việt và Thái Bình Dương chiếu tới, nên thần lực rất lớn, xứng đáng là Thủ đô muôn đời của một quốc gia văn hiến hùng mạnh.</p>
<p>Nhìn lại lịch sử, ngay từ thời Bắc thuộc, một số tướng lãnh cai trị Trung Hoa có tầm hiểu biết sâu rộng về phong thủy như Cao Biền bắt đầu để ý tới địa thế tốt đẹp của Hà Nội cổ, đã xây thành Đại La. Nhưng ngôi thành này thường bị bỏ trống, ít được chú ý… cho đến khi Lý Thái Tổ lên ngôi, dời đô từ Hoa Lư về Đại La đổi tên Thăng Long. Từ đó, Thăng Long như có thế Rồng bay. Lý Công Uẩn hiểu sâu sắc phong thủy thành Đại La. Ông viết trong Chiếu dời đô “Ở vào nơi trung tâm Trời Đất, được cái thế Rồng cuộn hổ ngồi”. Ông nhìn thấy hướng núi sông hòa hợp bề thế “Địa thế bằng phẳng, đất cao mà thoáng, là nơi tụ hội của bốn phương”…</p>
<p>Thăng Long- Hà Nội với thế núi, thế sông quá lớn , quá hùng vĩ, dài hàng mấy trăm dặm tiến tới, tất cả đều hướng về, phủ phục, triều bái. Quả là thế đất quân vương, có thể điều khiển, sai khiến được chư hầu. Trước khi Thăng Long được chọn làm Thủ đô, nước ta chỉ là một quốc gia nhỏ, như các nước nhược tiểu: Chiêm Thành,  Chân Lạp, Ai Lao… Đã vậy còn bị Trung Hoa đô hộ suốt gần mười thế kỷ. Khi Lý Thái Tổ định đô tại Thăng Long, đất nước ta dần trở nên hùng mạnh. Đó chính là do địa thế đặc biệt của Thăng Long- Hà Nội mà người dân gọi là “Đất Thánh” ở trung tâm đồng bằng Bắc bộ có những dãy núi hùng vĩ, trùng trùng điệp điệp từ xa tiến tới, phủ phục triều bái.</p>
<p>Sông Hồng Hà khi chảy ngang qua Hà Nội, tuy có hơi cong một chút nhưng thế nước vẫn chảy nhanh và mạnh, làm tiêu tán đi rất nhiều nguyên khí của Thăng Long- Hà Nội. Nếu như khúc sông này được sửa lại thành thế uốn lượn êm đềm như sông Hương hay sông Sài Gòn, thì thần lực của những dãy núi hùng vĩ xung quanh mới được tích tụ đầy đủ tràn trề ở Hà Nội. Khi đó, chẳng những đất nước ta sẽ trở nên giàu có, thịnh vượng, mà còn áp đảo được thế lực khác nhăm nhe bên cạnh.</p>
<p>Huế chỉ là một thành phố nhỏ, thế núi thế sông quá ngắn, không phát sinh được nhiều vượng khí như Hà Nội. Sài Gòn nằm giữa một vùng đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu, xung quanh nhiều núi non hộ vệ, lại có sông ngòi uốn khúc chảy tới, nên tiềm năng phát triển kinh tế vô hạn. Nhưng Sài Gòn vẫn nằm vào vị trí phụ thuộc đối với phong thủy, nên khó vươn lên tầm nắm vị trí quan trọng hàng đầu. Nếu so sánh phong thủy giữa ba thành phố, thì Huế và Sài Gòn không thể sánh được với Thăng Long- Hà Nội. Thành phố Hà Nội nằm giữa những dãy núi quá hùng vĩ, thế núi chầu phục, tụ hội khí phách quật cường của dân tộc, trải nghìn năm đã chặn đứng bước đường quân giặc xâm lăng…</p>
<p>Ngày nay, người Việt Nam không còn xa lạ với phong thủy. Vượng khí núi sông đã và đang tác động trực tiếp đến từng người, từng nhà, từng con phố đường làng, ngõ hẻm. “Thứ nhất cận thị, thứ nhì cận sông”. Đó là chuyện may của ngày xưa. Còn nay, nhà ai có cơ may gần sông, hồ ao, có khi thành rủi. Bởi nguồn nước ở những nơi đó đã bị ô nhiễm quá nặng. Khí độc bốc lên hủy hoại không khí từng ngày. Nói gì đến chuyện con người thu linh khí Đất- Trời, giữ gìn sức khỏe, góp vào sự trường tồn của sơn hà xã tắc.</p>
<p>Chúng ta ai cũng thấu chuyện này. Ai cũng kêu ca thống thiết. Nhưng ai mó tay làm sạch sông hồ? Rác bẩn xú uế, nước thải xả xuông hồ ao, sông suối từng giờ. Rừng bị chặt phá không thương tiếc. Sông suối bị ngăn làm thủy điện quá nhiều, gây mất cân bằng phong thủy…</p>
<p>Từ trong cổ tích, người Việt đã biết trồng rừng giữ đất. Đắp núi cao thêm. Đào sông sâu rộng. Mơ tạo ra núi cho đồng bằng. Tổ tiên ta giữ phong thủy bằng những cuộc chiến không bao giờ ngưng nghỉ giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh. Họ trồng cây mây trên rừng, thả khuôn sắt trồng cây tre giữa dòng nước xoáy ngăn lũ, trồng cây đước, phi lao, sú vẹt giữ đất biển bồi, đắp đê chống lụt, lũy tre xanh chằng chịt bờ đê chống sụt lở, vỡ đê… Tổ tiên đã truyền lại những kinh nghiệm máu xương cho nòi giống để sống, để giữ gìn núi sông đất nước, qua những truyện cổ tích, mà mấy ai tiếp nhận. Coi đó là chuyện mua vui cho con trẻ.</p>
<p>Gần hai thế kỷ trước, ông quan, nhà thơ Nguyễn Công Trứ bỏ Thăng Long về Thái Bình mở mang đất mới. Biến bãi đất biển bồi thành vùng lúa trù phú, dân cư đông đúc. Vậy mà ngày nay, có người đòi phá lúa, moi than bùn. Lợi bất cập hại. Đời cha xây đắp. Đời con phá. Còn đâu linh khí? Đau lòng dân. Thiệt đời dân!?</p>
<p>Còn giấc mộng xây thành phố bên bờ bãi sông Hồng đã thực hiện chưa? Nghĩ mà kinh. Người ta định phá “thế Rồng cuộn hổ ngồi”, triệt tan “linh khí núi Nùng sông Nhị” của Thăng Long- Hà Nội nghìn tuổi một cách “nhung lụa” vậy sao? Thăng Long xưa lấy “núi Tản làm án, sông Nhị làm đai”. Sông Nhị là sông Cái, sông Hồng, sông Mẹ… là tấm lụa đào, thắt đáy lưng ong Hà Nội, là nơi tụ linh khí núi sông, trời đất. Ai dám cả gan làm điều xằng bậy?</p>
<p>Phong thủy Thăng Long- Hà Nội núi sông, ao hồ đọng đầy linh khí, giờ ô nhiễm bốc mùi. Chẳng lẽ chúng ta chịu bó tay? Thời Lý- Trần- Lê ông cha đã nhiều lần nạo vét sông Tô Lịch. Cố giáo sư Trần Quốc Vượng đã viết những lời cảm động: “Đánh thắng giặc Mỹ người Hà Nội sẽ bảo nhau làm sống lại dòng sông Tô Lịch “vừa trong vừa mát”, cho “Thuyền em ghé sát thuyền anh”.</p>
<p>Sông Tô Lịch nay đã được xây kè lại, nhưng dòng nước đen ngòm, khí độc xông lên. Chẳng lẽ chúng ta không thể làm nước sông trong sạch lại? Mỗi người dân Việt Nam hãy trình bày dự án làm sạch nước sông Tô. Cánh cửa UBND thành phố mở rộng, tiếp nhận các dự án và thử nghiệm công khai, chọn phương án tối ưu để xử lý nguồn nước ô nhiễm Hà Nội và sông Tô Lịch, Hồ Tây, Hồ Gươm… Trước mắt, làm sạch nguồn nước bẩn và sau đó từng người dân phải chung sức bảo vệ sự sạch đẹp lâu dài cho các sông hồ ao Hà Nội. Đây là cách tích cực nhất để bảo vệ phong thủy, giữ nguyên khí Thăng Long- Hà Nội, tác động đến sự hưng thịnh, trường tồn của đất nước và chăm sóc sức khỏe nhân dân.</p>
<p><strong>Trưa Hồ Gươm- cụ Rùa nổi sát bờ</strong></p>
<p><strong>13h Ngày 9-3- 2010.</strong></p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/vanhacyb.wordpress.com/5884/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/vanhacyb.wordpress.com/5884/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/vanhacyb.wordpress.com/5884/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/vanhacyb.wordpress.com/5884/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/vanhacyb.wordpress.com/5884/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/vanhacyb.wordpress.com/5884/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/vanhacyb.wordpress.com/5884/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/vanhacyb.wordpress.com/5884/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/vanhacyb.wordpress.com/5884/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/vanhacyb.wordpress.com/5884/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/vanhacyb.wordpress.com/5884/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/vanhacyb.wordpress.com/5884/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/vanhacyb.wordpress.com/5884/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/vanhacyb.wordpress.com/5884/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vanhacyb.wordpress.com&amp;blog=7020745&amp;post=5884&amp;subd=vanhacyb&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/13/phong-thuy-thang-long-ha-noi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/8e6815571642b8969077094b7f6e6713?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">tranvanhac</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Cần tôn vinh đúng mức danh nhân văn hóa thế giới của dân tộc!</title>
		<link>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/12/can-ton-vinh-dung-muc-danh-nhan-van-hoa-the-gioi-cua-dan-toc/</link>
		<comments>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/12/can-ton-vinh-dung-muc-danh-nhan-van-hoa-the-gioi-cua-dan-toc/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 12 Mar 2010 03:27:23 +0000</pubDate>
		<dc:creator>tranvanhac</dc:creator>
				<category><![CDATA[Vui buồn, Suy ngẫm]]></category>
		<category><![CDATA[ton vinh danh nhan]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vanhac.org/?p=5773</guid>
		<description><![CDATA[Trần Vân Hạc Có lần do tò mò, tôi hỏi một học sinh bậc PTTH: - Cháu có biết đất nước mình có bao nhiêu danh nhân văn hóa thế giới không? Em học sinh suy nghĩ một lát rồi ngần ngừ: - Dạ… cháu cũng không rõ lắm, hình như có Bác Hồ thì [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vanhacyb.wordpress.com&amp;blog=7020745&amp;post=5773&amp;subd=vanhacyb&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Trần Vân Hạc</strong></p>
<p>Có lần do tò mò, tôi hỏi một học sinh bậc PTTH:</p>
<p>- Cháu có biết đất nước mình có bao nhiêu danh nhân văn hóa thế giới không?</p>
<p>Em học sinh suy nghĩ một lát rồi ngần ngừ:</p>
<p>- Dạ… cháu cũng không rõ lắm, hình như có Bác Hồ thì phải.<span id="more-5773"></span><br />
<a href="http://img94.imageshack.us/img94/8126/vanhacorg.jpg" target="_blank"><img src="http://img94.imageshack.us/img94/8126/vanhacorg.jpg" border="0" alt="Free Image Hosting at www.ImageShack.us" /></a></p>
<p><em>(Chân dung danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi)</em></p>
<p>Tôi buồn mãi và nhớ lại cuối năm 2009 lần về Lệ Chi Viên, Gia Bình, Bắc Ninh, nơi cách đây gần 600 năm đã xảy ra vụ án oan thảm khốc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam: Lễ nghi học sỹ Nguyễn Thị Lộ, Nguyễn Trãi cùng ba họ của Nguyễn Trãi bị rơi đầu bởi những âm mưu đen tối tranh dành quyền lực và hãm hại trung thần của triều đình phong kiến. Hỏi thăm từ già đến trẻ, không ai biết Lệ Chi Viên và đền thờ Nguyễn Trãi ở đâu!?</p>
<p>Dân tộc ta trải 4.000 năm dựng nước và giữ nước. Trong suốt chiều dài của lịch sử ấy đã sản sinh biết bao anh hùng dân tộc, biết bao danh nhân văn hóa lỗi lạc, những người con ưu tú của dân tộc, mà cuộc đời và sự nghiệp của các bậc vĩ nhân ấy không chỉ phản ánh tinh thần của dân tộc, hơi thở của thời đại, khát vọng và ý chí của nhân dân, mà còn là những dấu son sáng ngời đã trở thành những giá trị tinh thần to lớn của dân tộc. Mỗi dân tộc, một nền văn hóa dân tộc có thể có nhiều danh nhân văn hóa song có rất ít người đạt tới tầm cỡ danh nhân văn hóa thế giới. Đấy là điều rất đáng tự hào của dân tộc ta.</p>
<p>Chính cuộc đời và sự nghiệp của các danh nhân văn hóa thế giới của dân tộc ấy, là hành trang, là điểm tựa, là tấm gương sáng cho các thế hệ trẻ soi mình vào đó để hiểu về tổ tiên, đất nước và những gì mình có hôm nay, để biết trân trọng nâng niu cuộc sống, biết sống, biết yêu, biết đấu tranh và khoan dung nhân ái như truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Đồng thời bạn bè năm châu có thêm điều kiện hiểu về đất nước và con người của chúng ta.</p>
<p>Với danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi, bậc khai quốc công thần đệ nhất thời Lê, văn võ kiêm toàn, là nhân vật vĩ đại về nhiều mặt, rất hiếm có trong lịch sử. Công lao sự nghiệp của ông rất lớn. Đạo đức phong cách của ông vô cùng cao đẹp. Ông là một anh hùng dân tộc vĩ đại, là nhà chính trị lỗi lạc, nhà chiến lược thiên tài, nhà ngoại giao kiệt xuất, đồng thời là một nhà văn lớn, nhà thơ lớn, nhà sử học, nhà địa lý học, nhà làm luật pháp và âm nhạc xuất sắc. Ngay từ khi còn sống , Nguyễn Trãi đã được những người đương thời khen ngợi là: “Kinh bang hoa quốc, cổ vô tiền”, nghĩa là: (Dựng nước và làm vẻ vang Tổ quốc, từ xưa chưa ai được như ông). Nguyễn Mộng Tuân, một người bạn của Nguyễn Trãi, đã ca ngợi Nguyễn Trãi: “Gió thanh hây hẩy gác vàng, người như một ông tiên ở trong toà ngọc, cái tài làm hay, làm đẹp cho nước, từ xưa chưa có bao giờ… “Nguyễn Trãi không phải là ông tiên. Nguyễn Trãi là người chân đạp đất việt Nam, đầu đội trời việt Nam, tâm hồn lộng gió của thời đại lúc bấy giờ, thông cảm sâu xa với nỗi lòng dân lúc bấy giờ, suốt đời tận tuỵ cho một lý tưởng cao quý. Nguyễn Trãi là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc. Sự nghiệp và tác phẩm của Nguyễn Trãi là một bài ca yêu nước và tự hào dân tộc. Nguyễn Trãi rất xứng đáng với lòng khâm phục và quý trọng của chúng ta. Ca ngợi người anh hùng dân tộc, chúng ta đã rửa mối “hận nghìn thu” của Nguyễn Trãi”. Đại thi hào Nguyễn Du lại nổi tiếng với kiệt tác “Truyện Kiều” mà mỗi câu, mỗi dòng đều như một viên ngọc lung linh tỏa sáng muôn mầu. Truyện Kiều chan chứa nỗi đau nhân thế, chuyên chở khát vọng cháy bỏng về hạnh phúc, tình yêu, tự do và công lý, đồng thời tố cáo sâu sắc sự tàn bạo của chế độ phong kiến. Truyện Kiều được coi là đỉnh cao của nền thi ca Việt Nam, chứa đựng những tư tưởng nhân văn lớn, đạt tới sự điêu luyện và hoàn mỹ về nghệ thuật ngôn từ. Bởi vậy Nguyễn Du được xem như là một nhà thơ lớn nhất Việt Nam từ trước đến nay.</p>
<p>Chủ tịch Hồ Chí Minh, “người Việt Nam đẹp nhất”, đã kế thừa và phát huy xuất sắc những giá trị cao quí của truyền thống dân tộc. Người là linh hồn, là ngọn cờ sáng ngời lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, chiến đấu anh dũng, viết nên trang sử vẻ vang nhất của Tổ quốc ta, dân tộc ta. Đất nước ta rất tự hào đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh &#8211; Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá thế giới và càng tự hào hơn nữa chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta.</p>
<p>Chủ tịch Hồ Chí Minh được coi là một danh nhân không chỉ của dân tộc Việt Nam mà còn của thế giới. <a title="UNESCO" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/UNESCO">UNESCO</a> đã tôn vinh là Anh hùng giải phóng dân tộc, <a title="Danh nhân văn hóa" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_nh%C3%A2n_v%C4%83n_h%C3%B3a">danh nhân văn hóa</a> do “các đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật”, và “đã dành cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng nhân dân Việt Nam, đóng góp cho cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của các dân tộc trên thế giới”.</p>
<p>Hàng năm chúng ta vẫn long trọng tổ chức kỷ niệm ngày sinh, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu… nhưng kết quả chưa cao, những giá trị tinh thần to lớn chưa sống trong tâm hồn mọi thế hệ. Một câu hỏi lớn đặt ra là: chúng ta đã biết tôn vinh đúng mức những danh nhân văn hóa thế giới của dân tộc chưa. Trong khi những giá trị văn hóa là những cái sẽ sống mãi trong lòng người. Trong cuộc sống của nhân loại, không có gì sánh bằng những giá trị văn hóa, chính những giá trị văn hóa ấy góp phần to lớn làm nên sự vĩnh cửu của văn hóa mỗi dân tộc. Chúng ta đã xây nhiều đền, dựng nhiều tượng, dạy một số tiết trong nhà trường, song tác dụng chưa nhiều. Phải chăng chúng ta chưa đặt ra đúng mức: tôn vinh các danh nhân văn hóa chính là tôn vinh những giá trị văn hoá to lớn của dân tộc, là mang giá trị văn hoá lớn lao ấy vào đời sống tinh thần  toàn dân tộc, đồng thời qua dó quảng bá hình ảnh dân tộc với toàn thế giới. Đó chính là việc góp phần tích cực giáo dục đạo đức nhân văn cho thế hệ trẻ, cho toàn dân. Bởi chỉ có văn hoá mới làm nên nhân cách, làm nên trí tuệ, làm nên khát vọng, làm nên ý chí cho một dân tộc giúp dân tộc ta chiến đấu và chiến thắng, xây dựng đất nước ngày càng văn minh, giầu mạnh. Đã đến lúc chúng ta cần có những giải pháp tốt cho việc tăng cường giáo dục các giá trị đạo đức nhân văn cho thế hệ trẻ thông qua việc tôn vinh đúng mức, bằng nhiều hình thức các danh nhân văn hóa thế giới của dân tộc ta. Nhìn lại hệ thống giá trị đạo đức nhân văn chúng ta thấy rằng từ thời cổ đại, loài người đã thừa nhận hệ thống giá trị: Chân, Thiện, Mỹ và đến nay vẫn được mọi người thừa nhận, tuy có một vài sự khác nhau giữa các quốc gia, dân tộc. Tiếp đó là hệ thống giá trị nhân văn của Nho giáo thời phong kiến là Nhân, Trí, Dũng. Sinh thời, Bác Hồ thường dạy: Nhân, Trí, Dũng, Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Trung với nước, Hiếu với dân. Như vậy, cái đức cái thiện, lòng yêu dân, yêu nước là cốt lõi trong thước đo giá trị nhân văn của con người Việt Nam. Mà chính cuộc đời, sự nghiệp và những giá trị văn hóa to lớn của các danh nhân văn hóa thế giới cùng bao anh hùng dân tộc của dân tộc ta hội tụ đủ những điều đó. Tôn vinh các danh nhân văn hóa thế giới của dân tộc không chỉ là tôn vinh một con người cụ thể, mà lớn hơn chính là sự tôn vinh những giá trị văn hóa, tinh hoa của dân tộc, làm cho hồn cốt văn hóa dân tộc ấy ăn sâu vào tiềm thức mỗi người, vào đời sống của cả dân tộc.</p>
<p>Nếu cuộc đời và sự nghiệp cùng những áng văn thơ bất hủ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, của Hồ Chí Minh luôn được vang lên trong lòng mỗi con người Việt Nam từ khi còn trong bụng mẹ, đến khi nhắm mắt xuôi tay, thì mỗi con người Việt Nam chúng ta chắc chắn sẽ sống đầy nhân tính, luôn khát khao vươn tới thịnh vượng, hòa bình, hình ảnh Việt Nam thân yêu của chúng ta trong lòng bè bạn năm châu sẽ tươi đẹp hơn nhiều.</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/vanhacyb.wordpress.com/5773/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/vanhacyb.wordpress.com/5773/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/vanhacyb.wordpress.com/5773/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/vanhacyb.wordpress.com/5773/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/vanhacyb.wordpress.com/5773/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/vanhacyb.wordpress.com/5773/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/vanhacyb.wordpress.com/5773/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/vanhacyb.wordpress.com/5773/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/vanhacyb.wordpress.com/5773/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/vanhacyb.wordpress.com/5773/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/vanhacyb.wordpress.com/5773/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/vanhacyb.wordpress.com/5773/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/vanhacyb.wordpress.com/5773/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/vanhacyb.wordpress.com/5773/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vanhacyb.wordpress.com&amp;blog=7020745&amp;post=5773&amp;subd=vanhacyb&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/12/can-ton-vinh-dung-muc-danh-nhan-van-hoa-the-gioi-cua-dan-toc/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/8e6815571642b8969077094b7f6e6713?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">tranvanhac</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://img94.imageshack.us/img94/8126/vanhacorg.jpg" medium="image">
			<media:title type="html">Free Image Hosting at www.ImageShack.us</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Cô đơn</title>
		<link>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/12/co-don/</link>
		<comments>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/12/co-don/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 12 Mar 2010 02:47:31 +0000</pubDate>
		<dc:creator>tranvanhac</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thơ]]></category>
		<category><![CDATA[co don]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://vanhac.org/?p=5771</guid>
		<description><![CDATA[Trần Vân Hạc Anh một mình giữa chốn phồn hoa Ngơ ngác lá xuân về không em nhỏ Muôn chồi biếc thắp ngời lên ngọn lửa Đâu mắt em trong nụ biếc xanh xa Từng đôi. Từng đôi… dạo bước bên hồ Sao mình anh bơ vơ lạc lõng Lá vô tư nghiêng cả chiều [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vanhacyb.wordpress.com&amp;blog=7020745&amp;post=5771&amp;subd=vanhacyb&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Trần Vân Hạc</strong></p>
<p>Anh một mình giữa chốn phồn hoa</p>
<p>Ngơ ngác lá xuân về không em nhỏ</p>
<p>Muôn chồi biếc thắp ngời lên ngọn lửa</p>
<p>Đâu mắt em trong nụ biếc xanh xa<span id="more-5771"></span></p>
<p>Từng đôi. Từng đôi… dạo bước bên hồ<br />
Sao mình anh bơ vơ lạc lõng<br />
Lá vô tư nghiêng cả chiều cô độc<br />
Trút sương lạnh vào lòng anh cô đơn</p>
<p>Nếu cuộc đời mãi mãi không em<br />
Sẽ còn lại những gì trong cuộc đời còn  mất<br />
Em từng bên anh &#8211; người thân yêu nhất<br />
Xuân chín rồi đợi mãi vẫn không em ?</p>
<p>Anh hỏi gió, gió khẽ rùng mình<br />
Xao xác lá hơi thở dài vụng dại<br />
Xuân đâu biết trong lòng anh ấm mãi<br />
Phút  tuyệt vời em trao khi chia xa</p>
<p>Có phải trời muốn thử thách đôi ta<br />
Bao cách trở trên dương trần mưa gió<br />
Dẫu cuối trời một vì sao lấp lóa<br />
Bến chờ nào yêu trong mắt yêu</p>
<p>Thành phố đêm nay ngơ ngác chín chiều<br />
Con ngõ nhỏ hun hút dài trống vắng<br />
Tiễn em đi sao lòng không yên lặng<br />
Ánh sao buồn đau nỗi nhớ thương<br />
Anh đợi chờ thao thức hàng đêm<br />
Chỉ một mình thôi đâu cần ai chia sẻ<br />
Bởi yêu em anh độc hành lặng lẽ<br />
Dấu mình vào trong tiếng thở dài đêm</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/vanhacyb.wordpress.com/5771/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/vanhacyb.wordpress.com/5771/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/vanhacyb.wordpress.com/5771/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/vanhacyb.wordpress.com/5771/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/vanhacyb.wordpress.com/5771/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/vanhacyb.wordpress.com/5771/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/vanhacyb.wordpress.com/5771/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/vanhacyb.wordpress.com/5771/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/vanhacyb.wordpress.com/5771/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/vanhacyb.wordpress.com/5771/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/vanhacyb.wordpress.com/5771/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/vanhacyb.wordpress.com/5771/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/vanhacyb.wordpress.com/5771/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/vanhacyb.wordpress.com/5771/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=vanhacyb.wordpress.com&amp;blog=7020745&amp;post=5771&amp;subd=vanhacyb&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://vanhacyb.wordpress.com/2010/03/12/co-don/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/8e6815571642b8969077094b7f6e6713?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">tranvanhac</media:title>
		</media:content>
	</item>
	</channel>
</rss>
