Khéo dụng người tài của Vua Quang Trung

H.B.Q

Ngô Thì Nhậm sinh ngày 11, tháng 9, năm Bính Dần (1746) tại làng Thanh Oai, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây, nằm trong Thành phố Hà Nội). Ông là con trai của Tiến sĩ Ngô Thì Sỹ (1726 – 1780). Năm Kỷ Dậu (1765), ông đỗ đầu khoa thi Hương. Năm Kỷ Sửu (1769), ông đỗ khoa Sỹ Vọng được bổ làm quan Giám sát Phó sứ ở Hải Dương. Năm Ất Mùi (1775), ông đỗ tiến sĩ được bổ làm Hộ Khoa cấp sự trung, rồi được thăng Giám Sát Ngự Sử đạo Sơn Nam, đến Hữu Thị Lang Bộ Công.
Tình hình Lê – Trịnh rối ren ông bỏ quan về ở quê vợ. Đến năm 1788, Nguyễn Huệ xuống lệnh tìm người làm quan cũ của Lê – Trịnh có tài đức để bổ dụng. Ông được Trần Văn Kỷ tiến cử, được Nguyễn Huệ rất trọng dụng, phong làm Tả Thị Lang Bộ Lại, tước Trình Thái Hầu. Đây là một sự tin tưởng tuyệt đối của Hoàng Đế Quang Trung đối với bộ hạ của mình. Lần đầu tiên ta thấy Ngô Thì Nhậm do Trần Văn Kỷ tiến cử thì Hoàng Đế Quang Trung bổ nhiệm và giao trọng trách ngay.
Đền Vua Quang Trung trên núi Quyết - TP.Vinh;Ảnh: Sỹ Minh.
Trong 4 năm (1788 – 1792), dưới trướng Quang Trung Nguyễn Huệ, ông đã phát huy cao độ tài năng của mình trong các lĩnh vực chính trị, văn hoá, quân sự, ngoại giao, đặc biệt là công tác ngoại giao. Hoàng Đế Quang Trung đã khai thác và sử dụng tài trí của Ngô Thì Nhậm trong việc đấu tranh với Càn Long (vua của nhà Thanh – Trung Quốc) và Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An đòi lại 2 tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, đòi xoá bỏ lễ cống người vàng…
Theo tóm tắt Niên biểu lịch sử Việt Nam của Hà Văn Thư và Trần Hồng Đức (NXB Văn hoá – Thông tin, Hà Nội, 1996) thì vua Càn Long đã hứa gả Công chúa cho Quốc vương Việt Nam (Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ) và tỉnh Quảng Tây sẽ được nhường lại cho Quốc Vương phò mã để đóng đô cho gần với Càn Long… Còn việc xoá nạn cống người vàng, theo sách Những khám phá mới về Hoàng Đế Quang Trung của TS.Đỗ Bang thì sau khi được tin Hoàng Đế Quang Trung mất, Càn Long đã làm một bài thơ viếng Quang Trung và sai xuất kho 3.000 lạng bạc để lo tang lễ. Tất cả giao cho Án sát tỉnh Quảng Tây là Thanh Lâm mang sang để phúng điếu Quang Trung. Bài thơ của Càn Long đốt trước mộ (mộ giả) có đoạn như sau (đã dịch ra tiếng Việt):
Lễ cũ bang giao cử bồi thần
Giao hiếu càng ngày thêm thiết thân
Nhớ mãi năm xưa cùng hội ngộ
Đáng cười Minh Tệ Kim Nhân…
Như vậy là nhờ sự gặp nhau giữa ba trí tuệ của Hoàng Đế Quang Trung, Trần Văn Kỷ và Ngô Thì Nhậm mà nước ta đã phá được “vạ Liễu Thăng”, rửa được cái nhục của đất nước đã mấy trăm năm.
Tầm chiến lược cầu hiền của Hoàng Đế Quang Trung thật là lồng lộng, bao dung, độ lượng thể hiện qua đoạn cuối trong “Chiếu cầu hiền”: “…Vậy ban chiếu xuống quan liêu lớn nhỏ và dân chúng trăm họ, ai có tài năng học thuật, mưu hay giúp ích cho đời đều cho phép được dâng thư tự tỏ bày công việc. Lời có thể dùng được thì đặc cách bổ dụng.
Lời không dùng được thì để đấy, chớ không ai bắt tội vu khoát. Những người có tài nghệ gì có thể dùng được cho đời thì cho các quan văn, võ được tiến cử. Lại cho dẫn đến yết kiến, tuỳ tài mà bổ dụng. Hoặc có người từ trước đến nay giấu tài im tiếng không ai biết đến cũng cho phép được dâng thư tự cử, chớ ngại cho thế là “đem ngọc bán rao”.
Ôi! Trời đất bế tắc thì hiền tài ẩn náu. Xưa thì đúng vậy, còn nay trời đất đã thanh bình, chính lúc người hiền gặp gỡ gió mây. Những ai tài đức nên đều gắng sức lên để được rạng rỡ chốn vương đình, một lòng cung kính để cùng hưởng phúc tôn vinh.
Bố cáo gần xa để cùng nghe biết!”.
Chiêu hiền đãi sĩ của Hoàng Đế Quang Trung không những kiên trì nhẫn nại mời cho kỳ được người tài hiền ra giúp nước, biết sử dụng tài năng của từng người và giao những công việc trọng trách thích hợp với khả năng của họ.
Tài dùng người còn ở chỗ thưởng phạt nghiêm minh. La Sơn Phu Tử – Nguyễn Thiếp là người Hoàng Đế Quang Trung đã phải quỳ xuống, mời cho được ông ra làm quan giúp nước và làm người thầy cho Hoàng đế thờ. Nhưng khi Nguyễn Thiếp làm Viện trưởng Viện Sùng Chính mà công việc làm chưa chu đáo, thì Hoàng Đế Quang Trung vẫn phê bình thẳng thắn.
Ngày 11/4 năm Quang Trung thứ 5 (1792), Hoàng Đế Quang Trung có văn bản truyền cho La Sơn Phu Tử rằng: “Nguyên năm ngoái có chú thích các sách tiểu học xem ra thấy âm nghĩa rất sơ sài, thô lược chưa xứng đáng với thượng chỉ.
Còn về việc viễn nghĩa Tứ Thư thì hẹn rằng mùa xuân năm nay tiến nộp, nay chưa gửi về là sai hẹn, làm chậm. Truyền cho phải mau chóng chú thích âm và nghĩa đóng thành tập gửi về để ngữ tiến, hãy nên gia ý việc giải thích âm tiết cho tinh mật, chớ làm thô lược lảo thảo như kỳ trước”. Qua bản văn, chúng ta thấy Hoàng Đế Quang Trung là một người Văn – Võ toàn tài. Vì học giả La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp là người uyên bác về Nho học và giỏi văn chương, am tường lịch sử của cả nước ta thời đó. Mà khi chú thích sách tiểu học, ông đã bị Hoàng Đế cho là: “Âm nghĩa rất sơ sài, thô lược, chưa xứng đáng với thượng chỉ”. Nếu Hoàng Đế không thông thạo chữ Hán và chữ Nôm thì làm sao biết được bản dịch và chú thích còn rất sơ sài thô lược?!
Nhờ có lời phê bình, mà sau một tháng, sách Tứ Thư (một danh tác của Trung Hoa) đã được dịch xong và đóng thành 32 tập gửi về Phú Xuân. Nhận được sách, Hoàng Đế Quang Trung rất mừng, xem xong liền ban chiếu khen thưởng.
Tờ chiếu viết: “Chiếu cho Sùng Chính Viện Trưởng La Sơn Nguyễn Khải Xuyên được biết: Nguyên kỳ trước dịch xong các sách tiểu học đã đệ tiến nộp, kỳ này việc dịch Tứ Thư đã xong cọng được 32 tập trấn quan đã chuyển về kinh tiến nộp. Trẫm đã từng xem Tiên Sinh giảng bàn phu diễn thật đã chăm chỉ. Những viên giúp rập là Nguyễn Công, Nguyễn Thiện, Phan Tố Định, Bùi Dương Lịch đều có công. Vậy ban thưởng cổ tiền 100 quan giao cho trấn quan chiếu theo mà cấp, lĩnh về chung hưởng ân tứ.
Khi xong việc bộn bề Trẫm nghỉ ngơi vui ý đọc sách. Tiên Sinh học vấn uyên bác nên vì Trẫm mà phát huy những thư khiến cho bổ ích thêm.
Quang Trung năm thứ 5 ngày 01 tháng 6 (1792)”.
Qua các cứ liệu lịch sử, ta thấy đức chiêu hiền đại sĩ và khéo dùng người của Hoàng Đế Quang Trung là không nhiều trong các triều đại xưa. Khi đã nhìn thấy người hiền tài của đất nước, thì với cương vị là Hoàng Đế, ông vua này vẫn kiên trì nhẫn nại, quỳ gối xuống để mời cho được người dân hiền tài ra giúp nước, làm thầy cho mình thờ.
Nhưng không phải chiêu hiền một chiều, mà có phê bình và dùng chính sách thưởng phạt nghiêm minh. Hoàng Đế quả là bậc thầy về sử dụng nhân tài và chiêu hiền đãi sĩ. Nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng Hoàng Đế Quang Trung không những thiên tài về quân sự, ngoại giao mà còn là một thiên tài về nghệ thuật dùng người!

H.B.Q
Nguồn: Báo Nghệ An

Vua Quang Trung với Hoàng Sa, Trường Sa
Mô tả trong nhiều tư liệu lịch sử khẳng định, lực lượng hải quân Tây Sơn trong thực tế đã kiểm soát được các tuyến giao thông trên biển và là chủ nhân của các vùng đảo, quần đảo giữa Biển ĐôngDi tích miếu Hoàng Sa nay vẫn tồn tại ở đình làng Lý Hải thuộc đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Công việc thực thi chủ quyền ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thật sự được bắt đầu khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên lên nắm quyền và đặt ra các đội Hoàng Sa, Bắc Hải đặc trách công việc khai thác và bảo vệ Biển Đông từ tuyến ngoài. Đây là một phương thức thực thi chủ quyền độc đáo của Nhà nước Việt Nam trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông mà không có bất cứ một quốc gia nào trong khu vực có được…

Vua Quang Trung. Tranh minh họa.
Thành tựu vĩ đại của phong trào nông dân Tây Sơn là đã bước đầu thống nhất được đất nước sau nhiều thế kỷ bị chia cắt thành hai khu vực Đàng Trong, Đàng Ngoài. Đây cũng là lần đầu tiên sự thống nhất được thực hiện trên phạm vi rộng lớn tương đương với nước Việt Nam ngày nay và cũng là lần đầu tiên, toàn bộ đường bờ biển chạy dài từ Vịnh Bắc Bộ đến Vịnh Thái Lan với hàng nghìn hòn đảo ven bờ cùng các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ngoài Biển Đông đã thuộc về quyền kiểm soát của Nhà nước Việt Nam.
Giống như các chúa Nguyễn trước đây, triều đại Tây Sơn của Quang Trung – Nguyễn Huệ vẫn tiếp tục tổ chức các đội Hoàng Sa và Bắc Hải với chức năng chủ yếu là bảo vệ và khai thác vùng quần đảo xa giữa Biển Đông. Đội Hoàng Sa thời kỳ chúa Nguyễn được ấn định số lượng 70 suất và hoàn toàn chỉ chọn người xã An Vĩnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Hằng năm, cứ vào tháng hai, đội xuất hành gồm 5 chiến thuyền ra Hoàng Sa, Trường Sa thu nhặt hóa vật của tàu bị nạn, tìm kiếm hải vật và ở lại đây đến tháng tám mới trở về nộp cho triều đình Phú Xuân. Đội Bắc Hải tuyển người ở thôn Tứ Chính và xã Cảnh Dương thuộc tỉnh Bình Thuận và không cố định số suất thủy thủ như đội Hoàng Sa.

Phong trào nông dân Tây Sơn khi bùng nổ đã phát triển rất nhanh và đến cuối năm 1773, đã giải phóng được một vùng rộng lớn từ Quảng Nam ở phía Bắc cho đến tận Bình Thuận ở phía Nam. Như thế là toàn bộ các vùng quê hương của hai đội Hoàng Sa và Bắc Hải, từ rất sớm đã nằm trong khu vực kiểm soát của quân Tây Sơn.

Vào ngày 15 tháng Giêng năm 1776, Cai hợp phường Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) là Hà Liễu đã làm đơn trình bày rõ: “Bây giờ chúng tôi lập hai đội Trường Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch, được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, cù lao ngoài biển tìm nhặt vật hạng đồng thiếc, hải ba, đồi mồi dâng nạp. Nếu như có tờ truyền báo, xảy chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm. Xong việc rồi chúng tôi xin tờ sai ra tìm báu vật cùng thuế quan đem phụng nạp”. Tờ đơn đã được chính quyền Tây Sơn (vua Thái Đức) xem xét, chuẩn cho và hiện vẫn còn lưu giữ lại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh (nay là thôn Tây, xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi).

Cũng tại nhà thờ họ Võ, đến nay vẫn còn giữ được Chỉ thị ngày 14/2 năm thứ 9 hiệu Thái Đức (1786) của Thái Phó Tổng Lý Quản binh dân chư vụ Thượng tướng công “Sai Hội Đức hầu Cai đội Hoàng Sa luôn xem xét đốc suất trong đội cắm biển hiệu thủy quân, cưỡi bốn chiếc thuyền câu, vượt biển thẳng tiến Hoàng Sa cùng các sứ cù lao ngoài biển, tìm nhặt đồ vàng, bạc, đồng và các thứ đại bác, tiểu bác, đồi mồi, vỏ hải ba, đá quý… đều chở về kinh tập trung nộp theo lệ. Nếu ngạo mạn càn bậy không đến, lại gian dối lấy bớt các vật quý hoặc sinh sự với dân làm muối, làm cá đều sẽ bị trị tội”.

Ngoài ra còn có bản Ngự phê lời tâu của dân xã An Vĩnh về việc dâng nộp các loại đồi mồi, hải ba, quế hương và xin miễn sưu dịch đã được thánh chỉ ban thưởng vàng và phê “chuẩn cho”. Văn bản chép rõ: “Niên hiệu Thái Đức năm đầu đến năm thứ 15 (1778-1792)” và “niên hiệu Cảnh Thịnh năm đầu đến năm thứ 9 (1793-1801). Khi ấy John Brrow là phái viên của phái bộ Macartney đi từ Anh sang Trung Quốc có ghé qua khu vực Đà Nẵng vào tháng 6 năm 1793 (dưới triều vua Quang Toản)”. Trong A Voyage to Cochinchina, in the year 1792-1793 (Một chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, vào những năm 1792-1793) mô tả: “Tàu thuyền xứ Đàng Trong có nhiều kiểu dáng khác nhau, được dùng vào việc buôn bán ven biển, chài lưới, thu lượm hải sản và tổ yến trong nhóm quần đảo gọi là Paracels (Hoàng Sa)”.

Từ những tư liệu hiện có, đã xác định được chủ quyền trên các quần đảo ngoài Biển Đông dưới thời Tây Sơn. Thời ấy tình hình trước Trung Hoa rất phức tạp, nhiều người chống đối chính quyền Mãn Thanh đã phải phiêu bạt trên Biển Đông, triều Tây Sơn đã ban nhiều tờ chiếu khuyến dụ lực lượng này quy thuận. Chiếu dụ Tàu Ô viết dưới thời Quang Trung từng vạch rõ: “Họ” (dân Tàu) ra vào nơi bể nước (Biển Đông), tụ tập đồ đảng lấy việc cướp bóc làm kế sinh nhai, có lẽ cũng là việc bất đắc dĩ, phần vì thiếu miếng ăn nên phải làm vậy, phần vì những chính sách bạo ngược xua đẩy. Quang Trung kêu gọi họ sớm đầu hàng. Và chiều theo sở nguyện của từng người thậm chí chấp thuận cho cả “những người có chí lớn, muốn xông pha nơi ngọn sóng cùng hải đảo”.

Thu phục những người Trung Hoa phiêu bạt trên Biển Đông và sử dụng họ tham gia vào công việc Nhà nước là một chính sách quan trọng và có tính chiến lược của vương triều Tây Sơn lúc ấy.

Sách Thánh Vũ Ký của Ngụy Nguyên (1794-1857) cho biết: Có nhiều người Trung Hoa làm nội ứng cho An Nam, được chúa An Nam Quang Toản phong cho làm Tổng binh hoặc Đông Hải vương: “Triều đình đang bận việc dẹp phía Tây, chưa lo xa đến vùng biển đảo, vì thế mà giặc hoạt động rất táo tợn. Năm đầu niên hiệu Gia Khánh (1796) vị tướng ở Khúc Châu là Khôi Luận, Tổng đốc lưỡng Quảng là Cát Khánh đã nhiều lần tâu vua rằng: bọn giặc biển Tàu Ô là Trần Thiên Bảo đã được An Nam cho làm Tổng binh và cấp cho ấn”.

Cũng trong cuốn sách này Ngụy Nguyên mô tả “Di thuyền” (thuyền của quân Tây Sơn) cao, to hơn thuyền Trung Hoa, trên đặt nhiều súng, hoành hành lâu năm trên mặt biển và nếu quân nhà Thanh gặp thì cũng khó có thể địch được. Đây là một bằng chứng khẳng định lực lượng hải quân Tây Sơn trong thực tế đã kiểm soát được các tuyến giao thông trên biển và là chủ nhân của các vùng đảo, quần đảo giữa Biển Đông.

Sau khi triều Tây Sơn sụp đổ, nhà Nguyễn vẫn tiếp tục chính sách tiến ra Biển Đông, khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên khu vực các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các triều: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị… đã thực thi chủ quyền của mình bằng nhiều hình thức như vãn thám, kiểm tra, kiểm soát, khai thác các vật và hải sản, tổ chức thu thuế và cứu hộ tàu bị nạn, khảo sát, đo vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền, dựng bài gỗ lưu dấu để ghi nhớ, trồng cây để cho người qua lại dễ nhận biết. Những đóng góp quan trọng của triều Nguyễn thế kỷ 19 vào lịch sử chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông là sự tiếp nối chính sách của vương triều Tây Sơn ngày ấy.

Theo Quân Đội Nhân dân
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: