Tiếng chuông nguyện cầu Hòa Bình trên đỉnh Trường Sơn

Ký của Mai Thục

Ngày thương binh liệt sĩ, tôi có cơ duyên về thăm Nghĩa trang Trường Sơn lần thứ tư cùng với những người thương binh của Công ty TNHH Hòa Bình, do ông Nguyễn Hữu Đường làm Tổng giám đốc. Chúng tôi xúc động chứng kiến cuộc hội ngộ tâm linh và niềm tri ân của những người còn sống với đồng đội ngã xuống chiến trường xưa trong lễ khánh thành hai tháp chuông, hai quả chuông lớn tại Nghĩa trang Trường Sơn, Nghĩa trang Đường 9, và xây dựng mở rộng nhà tiếp đón thân nhân liệt sĩ tỉnh Quảng Trị, do Công ty TNHH Hòa Bình cung tiến.

Hơn ba mươi năm sau cuộc chiến, con đường qua núi thẳm, sông sâu Hà Nội- Quảng Trị giờ đây đã có những cây cầu nối hai bờ chia cắt Bắc- Nam, những ngôi làng cháy, những ngọn đồi đỏ, đã thắm lại màu xanh… Đường vào Nghĩa trang Trường Sơn không còn lầm bụi, rừng cao su và hoa lá đại ngàn thức dậy lời ru đau đáu tình người, quằn quại nghĩa nước non.

Nghĩa trang Trường Sơn. Những ngọn gió lang thang gọi những linh hồn. Bầu trời xanh nhạt, mây trắng rải màu tang. Tiếng gọi Đồng đội ơi! Âm vang chớp bể mưa nguồn, động đất dày, lay trời cao, rung rừng già, hang đá… “ Tôi gọi mãi mà sao đồng đội không thưa, mà mưa cứ rơi mà gió cứ thét. Giặc đã chạy rồi sao cứ thẳng hàng như vậy. Bia rượu nhiều, sao không đứng dậy mà vui. Tôi gọi mãi không ai trả lời. Lạnh trắng một màu cắt da, cắt thịt. Tổ quốc sum vầy sao các anh đâu? Đồng đội ơi! Trắng xóa những linh hồn trắng. Mây cứ bay và bướm trắng chập chờn. Hương khói trắng để lòng ta trắng lặng. Đồng đội ơi! Chớp bể mưa nguồn. Đồng đội ơi! Dù năm tháng không nguôi. Xin hãy về cho tôi được khóc. Đồng đội ơi! Chớp bể mưa nguồn…” ( Thơ Trương Vĩnh Tuấn, nhạc Nguyên Giang).

Nghĩa trang Trường Sơn. Rừng già thâm u, nắng chứa chan và gió thì thào như tiếng của vạn triệu linh hồn đợi phút tiếng chuông đồng vọng Âm- Dương, vang lên khúc nguyện cầu Hòa Bình trên đỉnh Trường Sơn. Trước tượng đài tưởng niệm mờ khói hương, những thương binh vết chân tròn, thân tâm nhức nhối, nước mắt rơi, nghiêng mình cầu nguyện Đức Thích Ca Mâu Ni và Chư Phật Bồ Tát ngự trên cây Bồ Đề xum xuê tỏa ánh sáng xanh linh diệu ôm một vùng hương khói. Cây Bồ Đề xứ Phật bỗng nhiên mọc sau đài hương từ ngày đầu xây dựng là một hiện tượng kỳ diệu, nay xòa chín cội, quấn quýt lá cành xanh miên man tỏa tình yêu thương, vỗ về những linh hồn Trường Sơn. Quá nửa đời da diết thương đau, hôm nay giọt nước mắt của những “người lính già đầu bạc” thảng thốt cầu nguyện tiếng chuông của Phật ngân vang xuyên cả nghìn thế giới, giáo hóa chúng sinh sống Hòa Bình, bác ái, cứu khổ, cứu nạn cho con người, hãy vang lên trên đỉnh Trường Sơn cháy lửa này…

Tâm nguyện ấy được ấp ủ khi cuộc chiến vừa tàn, nhưng phút này đây, họ mới đủ duyên xây tháp chuông, đặt quả chuông nặng hơn một tấn phía sau cây Bồ Đề. Phút giây thiêng, im lặng, đợi chờ…TGĐ Nguyễn Hữu Đường thỉnh chuông. Không gian thẳm lặng thâm u ngàn đời bỗng rung ngân tiếng chuông nguyện cầu Hòa Bình. Tiếng chuông vang lên, lúc đầu nó nằng nặng, âm âm, u u trong gió, như tiếng của thế giới linh hồn trào lên, nức nở…rồi tiếng chuông dần bay, tan hòa Âm- Dương, gặp gỡ giao thoa…tiếng chuông thấm nước mắt linh hồn, chảy vào máu tim của những thương binh, dạt dào thành tiếng hát: “ Hãy gióng lên hồi chuông vọng đất trời, gọi anh linh bao người ngã xuống. Hồi chuông thiêng liêng, khắc cốt ghi xương bao đồng đội hy sinh. Hãy gióng lên hồi chuông yêu Hòa Bình. Ba hồi chiêu mộ rung tâm trí. Ngọn lửa anh linh rực đất trời. Hãy gióng lên hồi chuông nguyện cầu Hòa Bình . Muôn dặm non sông nặng nghĩa tình…”

( Thơ Giáo sư Vũ Khiêu, nhạc CLB Đồng Đội).

Nghiã trang Trường Sơn. Tiếng chuông thiêng liêng ngân trong gió nắng xua mây mù tăm tối. Rừng già rung chuyển khúc nguyện cầu Hòa Bình bay vào vũ trụ, ghi sâu vào lòng mọi con dân đất Việt hôm nay và mãi mãi mai sau:

Bát ngát Trường Sơn hồn liệt sĩ

Dạt dào Đông Hải khí anh linh

Ba hồi chiêu mộ rung tâm trí

Muôn dặm non sông nặng nghĩa tình

( Thơ G.S Vũ Khiêu khắc trên chuông )

Phút giây thiêng, những thương binh thỉnh chuông. Tiếng chuông khắc  nỗi đau chinh chiến, truyền tới các thế hệ mai sau thông điệp Hòa Bình. Tôi và nhà thơ Đỗ Bạch Mai thỉnh chuông. Tiếng chuông đau thương của những người mẹ, người vợ, người bà Việt Nam kêu gọi Hòa Bình vì sự sống của con người. Tiếng chuông nguyện cầu chiến tranh không tái diễn…

Nghĩa trang Trường Sơn. Những ngôi mộ thẳng hàng ngang hàng dọc. Những ngôi mộ không tên và có tên trắng lặng những ngọn đồi trùng điệp. Và còn hàng vạn nắm xương khô rơi dọc bìa rừng, ngọn suối, hang sâu, chân đồi, gốc cây già, hòn đá lạnh… Xin những linh hồn hãy về cho chúng tôi được khóc theo tiếng chuông ngân nguyện cầu chiến tranh đừng bao giờ lặp lại trên mảnh đất Việt Nam tươi xanh cỏ cây, hoa trái, con người, cánh đồng, làng mạc, đồi rừng, sông ngòi, trời, biển …

Nghĩa trang Trường Sơn. Ba hồi chuông chiêu mộ chuyển đất trời, gọi những linh hồn tụ hội. Tiếng các anh khắc khoải gọi mẹ: “Việt Nam ơi! Việt Nam. Núi cao như tình mẹ, suốt đời mang nặng những thương đau…”. Những linh hồn trở về tụ hội trong ngôi nhà Tâm của mẹ Việt Nam kéo theo những con dân Việt Nam tản trên khắp hoàn cầu, trở về chung tay xây dựng lại đất mẹ Việt Nam theo tiếng chuông nguyện cầu Hòa Bình vang trên đỉnh Trường Sơn. Tiếng chuông là lời kêu gọi chúng sinh trong cả nghìn thế giới, hãy sống bằng tình yêu thương và trí tuệ, xóa bỏ hận thù và bạo lực, của Chư Phật Bồ Tát. Giờ đây, tiếng chuông nguyện cầu Hòa Bình vang trên đỉnh Trường Sơn mỗi sớm, mỗi chiều là hiệu lệnh tâm linh, nhắc con ngườiViệt Nam sống trong tình yêu thương- trí tuệ thông hai cõi Âm- Dương. Bạn Việt Nam ơi! Dù bạn ở chân trời, góc bể nào thì hãy trở về cùng nhau thỉnh tiếng chuông nguyện Hòa Bình trên đỉnh Trường Sơn.

Nghĩa trang Trường Sơn. Dưới bóng cây Bồ Đề, tiếng anh Nguyễn Hữu Đường vang theo tiếng chuông ngân: “Ngày giỗ trận năm nay, tiếng chuông Phật ngân minh chứng lời cầu nguyện của chúng tôi. Cầu nguyện những anh linh liệt sĩ siêu thoát, phù hộ cho đất nước Hòa Bình, thoát đói nghèo, con người sống với nhau yêu thương, trí tuệ, công bằng, bác ái”. Linh hồn Trường Sơn nghe tiếng chuông Phật nâng siêu thoát, hoan hỉ giữa trời đất, gió trăng, tiếp sức cho những người còn sống. Theo tiếng chuông ngân, hồn tôi bay lên gặp gió mây trời, gặp hồn thiêng liệt sĩ tiếp thêm sức mạnh tâm linh, lòng thanh sạch, xua tan bụi trần. Nhà báo Đỗ Quảng thì thầm bên tôi: “Trên đời này điều quan trọng nhất là không có cái gì quan trọng cả. Sắc sắc, không không. Hư vô. Mình cứ vô tư mà vui sống, đừng nô lệ bất cứ một thứ gì”.

Nguyễn Hữu Đường cao hứng tâm sự:

– Tôi khổ đau, thất vọng nhiều nên sớm tìm đến thế giới tâm linh mà nương tựa. Tôi trải nghiệm được những điều khó lý giải về sức mạnh tâm linh. Khi lòng người trong sạch, tâm sáng, trí bền, không làm điều ác, không hận thù, gian dối, tham lam, phụ bạc, ích kỷ, kiêu căng… hành động tốt vì vạn sự trên trái đất, sống chân thật, yêu thương… thì sức mạnh tâm linh sẽ tới, hỗ trợ, cứu nạn, nâng ta vượt hiểm nguy, chướng ngại. Tôi được tâm linh cứu nhiều, cả về công việc, làm ăn, kể cả tính mạng của mình và người thân…nên sợ lắm, không dám ăn ở độc ác. Có lần tôi đi chuyên cơ với Thủ tướng sang nước ngoài, máy bay bị dính sét, mọi người sợ tái xám, thở hắt ra, tôi ngồi cầu nguyện, mặt tỉnh bơ, đến khi thoát nạn, tôi cười thanh thản, an bình, làm ai cũng ngạc nhiên… Tôi luôn nhủ mình gìn giữ cái tâm của mình sáng, để tiếp nhận được ánh sáng tâm linh. Tôi làm doanh nghiệp, coi trọng chữ tâm, chữ tín, trung thực, đàng hoàng, và không bao giờ quên dành một khoản tiền trợ cứu người nghèo và vun đắp văn hóa tâm linh. Năm 2000, chúng tôi bắt đầu đúc chuông cung tiến vào chùa vì tôi theo Phật, hiểu Phật dùng tiếng chuông để cứu khổ, cứu nạn cả nghìn cõi, nhưng nhiều chùa Việt Nam lại không có chuông. Năm 2001 về thăm lại chiến trường  Quảng Trị, chúng tôi ngủ ở nhà đón tiếp thân nhân liệt sĩ, thấy chật, không đủ chỗ, lòng áy náy không yên, nên bàn nhau tích cóp tiền, nay xây thêm một căn nhà ba tầng 900m2, giúp người thân liệt sĩ bớt khó khăn khi về thăm mộ…        Chúng tôi cung tiến hai quả chuông đặt ở Nghĩa trang Đường 9 và Nghĩa trang Trường Sơn bởi ước nguyện của nhân dân cả nước muốn cầu siêu cho các linh hồn người lính và những linh hồn vô tội chết vì cuộc chiến tranh, được siêu thoát, để hai cõi Âm- Dương giao hòa, giữ lành linh khí núi sông, đồng đất Việt Nam, giúp cuộc sống xã hội bình an. Nhưng muốn cầu siêu thì phải có chuông. Tiếng chuông Phật là tiếng mở cửa cõi Âm gọi các linh hồn bay lên siêu thoát. Khi được phép đúc chuông đặt trên đỉnh Trường Sơn, tôi lo nhất là chuông không kêu. Ông cha ta đã có lần đúc chuông không phát ra âm thanh, phải để xuống ruộng gọi là chuông Qui Điền. Chuông kêu phụ thuộc yếu tố tâm linh và kỹ thuật đúc chuông, cái tâm sáng của người đúc. Đến nay, chúng tôi đã đúc hai mươi quả chuông cung tiến, người đúc chuông là Dũng còn rất trẻ, con một người thợ đúc đồng Ngũ Xã. Dũng đã cố gắng làm ngày, làm đêm, đúc hai quả chuông này trên bãi cỏ An Dương- Hà Nội, đất trời, thần Phật và anh linh các liệt sĩ phù hộ, những ngày đúc chuông đều được nắng, nên hôm nay trên đỉnh Trường Sơn, mỗi tiếng chuông ngân trong không gian một phút rưỡi. Chúng tôi xúc động trào nước mắt. Đồng đội ơi! Chúng tôi thỉnh chuông mời các anh lên, nguyện cầu Hòa Bình cho đất nước. Mong các anh phù hộ độ trì cho cuộc sống của mọi nhà, mọi người được bình yên…

Rời Nghĩa trang Trường Sơn, chúng tôi nghe các anh thương binh Công ty Hòa Bình kể về cuộc hành trình vật vã áo cơm của mình sau cuộc chiến trên phố phường Hà Nội. Họ như đám bèo tụ lại trong cơn lũ. Hai mươi năm rồi, họ vẫn không sao quên được bao nỗi khó khăn, vất vưởng, nhọc nhằn. Sức tàn, lực kiệt họ cùng nhau hợp thành một khối, tự tạo việc làm, sống chết có nhau, không xin xã hội chiếu cố, mà gồng lên bằng tấm lòng thương binh yêu thương, đùm bọc. Họ nói về Nguyễn Hữu Đường với tình cảm mến phục, biết ơn người thủ lĩnh hào hiệp đã “ liều mình như chẳng có” tìm mọi cách học tập kỹ thuật sản xuất, tổ chức kinh doanh, giữa muôn vàn sấm chớp để họ có một Công ty Hòa Bình đầy sức mạnh hôm nay. Lời kể chuyện nghẹn ngào, khiến người kể và người nghe đều rớm lệ:

– Hết chiến tranh chúng tôi về phố, không ai còn lành lặn đủ hai bàn chân, hai con mắt, hai bàn tay…Tôi bị chấn thương sọ não, vết sẹo dài hơn gang tay lõm trên đầu, anh em gọi tôi là “Hà sẹo chó”. Tôi lúc tỉnh, lúc say, khi mê, khi mệt, khi sầu… biết làm gì để sống? Nhờ anh Đường vực chúng tôi dậy, mà có ngày hôm nay, tiền tiêu không hết, bia rượu uống nhòe, con cháu có việc làm, nghĩa tình gia đình, bạn bè đầy ắp… Anh Đường dẫn chúng tôi dò từng bước qua cơn cùng cực. Mới đầu bán bia hơi ở vỉa hè, sau mở nhà máy sản xuất bia, làm men bia không kém kỹ thuật Đức…Chúng tôi phải nén bụng “cầm nhà” vay tiền xây nhà máy. Có kẻ muốn hại, anh em quây lại tìm mưu sách vượt qua. Tôi đầu trơ vết sẹo, đi gõ cửa khắp nơi nói rõ sự thật, tình đời. Chúng tôi không ngửa tay xin, mà chỉ đòi công bằng, làm ăn đúng luật. Anh em tôi sống với nhau bằng tình hảo hán. Ai gặp nạn, anh Đường cứu. Anh Đường gặp nạn, chúng tôi cứu. Tâm linh cứu. Tôi không sao cầm được nước mắt mỗi khi nhớ lại cái hôm người thân anh gặp tai nạn giao thông. Tuyệt vọng. Anh một mình đi trong đêm mưa Hà Nội, ngửa cổ kêu trời gọi đất, nguyện cầu thần Phật. May sao Âm phù, Dương trợ, gia đình anh vượt được tai họa khủng khiếp ấy… Anh Đường chẳng có nhiều bằng cấp mà là thông minh vốn sẵn trời cho. Mỗi lần có dịp ra nước ngoài, anh học nhập tâm kỹ thuật của bạn về ứng dụng làm ăn, nay Công ty Hòa Bình chẳng kém ai, có thể làm ăn với thế giới. Có lúc anh ngồi hàng giờ ngắm tăm nổi trên cốc bia để tự điều chỉnh chất lượng. Chúng tôi nể phục cái trí, cái tình của anh, mà sống chết vì anh. Tôi nguyện suốt đời làm đệ tử của anh…

Tôi chưa một lần đến thăm những cơ ngơi cao đẹp của các anh, nhưng  nhiều lần viết về TGĐ Nguyễn Hữu Đường và Công ty Hòa Bình đã công đức hơn hai trăm triệu đồng phục dựng lại ngôi đền thờ Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ ở Khuyến Lương- Hà Nội. Ngôi đền duy nhất Việt Nam do nhân dân xây để thờ Đức Bà Nguyễn Thị Lộ cách đây đã vài trăm năm, bị hoang phế, nay được xây lại khang trang, linh thiêng để góp phần giải oan và tôn vinh một nhân vật lịch sử đã chịu oan khuất gần sáu trăm năm. Ngôi đền thờ Nguyễn Thị Lộ sống dậy còn ghi dấu “Góc thành Nam, lều một gian” của danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi. Tôi và nhà giáo Hoàng Đạo Chúc cùng những người yêu Nguyễn Trãi- Nguyễn Thị Lộ cảm phục Nguyễn Hữu Đường có một tầm cao văn hóa tâm linhViệt nên mới ra tay công đức xây lại ngôi đền thờ Nguyễn Thị Lộ, nhưng tôi chưa bao giờ gặp anh. Bất ngờ, tôi gặp Nguyễn Hữu Đường trên đỉnh Trường Sơn bát ngát anh linh hồn liệt sĩ trong tiếng chuông ngân nguyện cầu Hòa Bình. Bóng dáng anh giản dị, chân thành, mộc mạc một tâm hồn Hà Nội đậm chất văn hóa tâm linh. Tôi thầm nghĩ hồn thiêng Việt anh linh ngàn đời đã chọn Nguyễn Hữu Đường và đồng đội của anh được đặt hai quả chuông lớn của Phật trên đỉnh Trường Sơn nguyện cầu Hòa Bình. Họ đã cùng nhân dân kết nối tinh hoa văn hóa Việt, tâm hồn Việt với tinh hoa văn hóa phương Đông, như ông cha ta nghìn xưa.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: